MENU CHÍNH
Đại hội Hội Nông dân huyện Quảng Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2018-2023
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 0


Hôm nayHôm nay : 147

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10730

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1580083

Giá cả nông sản

Trang nhất » Tin Tức » Khoa học với nhà nông

Quy trình chăn nuôi thỏ trắng Newzealand

Thứ năm - 09/11/2017 14:16
I- CHUỒNG TRẠI
1- Chuồng nuôi thỏ
Tùy theo quy mô chăn nuôi để xây dựng chuồng trại phù hợp. Đối với những cơ sở chăn nuôi tập trung lớn có thể xây dựng chuồng trại quy mô, chuồng xây vững chắc  bằng gạch hoặc bloc, mái lợp tôn hoặc fibro, có trần chống nóng. Hai bên chuồng có hệ thống cửa thông gió có thể đóng mở chủ động để đóng mở tạo môi trường thong thoáng cho thỏ. Nền chuồng tráng xi măng, được chia thành nhiều luống, độ rộng mỗi luống đủ để đặt 02 ô lồng thỏ, nền chuồng  có độ dốc thích hợp để có thể thoát phân, nước tiểu của thỏ khi chúng ta dọn vệ sinh. Chuồng được chống nóng nóng bằng quạt, hệ thống phun nước và quạt thông gió.
Đối với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, có thể chuồng được xây bằng gạch, lợp mái bằng tồn hoặc fibro, cũng có thể được làm bằng gỗ, tre, nứa lợp fibro hay tranh, cọ. Chuồng phải có cửa chủ động đóng mở để giữ độ thông thoáng cho thỏ. Nền chuồng làm bằng xi măng, có độ dốc chừng 25 - 30để đễ dàng vệ sinh.  Chuồng thỏ nên làm dưới bóng cây hoặc trồng cây cho leo lên mái để chống nóng cho thỏ, về mùa Hè, những ngày nắng nóng có thể phun nước lên mái chuồng để làm mát cho thỏ.
2- Lồng nuôi thỏ
2.1- Lồng nuôi thỏ: Làm bằng sắt, gỗ hoặc tre, nứa. Mỗi ô lồng có kích thước 0,6m x 0,9 m x 0,45 m; có chỗ đựng thức ăn thô cho thỏ. Đáy lồng nhẵn, phẳng, êm, có khe hở 1cm - 1,5cm để thoát phân và chất thải dễ dàng. Với 1 ô chuồng như vậy có thể nhốt được từ 5-6 thỏ cai sữa; hoặc 2 thỏ hậu bị; hoặc 1 thỏ sinh sản.
2.2. Máng thức ăn tinh
Có thể làm bằng các loại vật liệu như: sành, sứ, xi măng, tôn, thép, gỗ... Nếu bằng vật liệu nhẹ thì phải có móc buộc vào thành lồng để thỏ không lật đổ được. Máng ăn phải có gờ uốn cong vào trong để tránh hiện tượng thỏ cào vãi thức ăn ra ngoài.
Kích thước máng ăn: Chiều dài 35-40cm; rộng miệng 10-15cm; chiều sâu 6-8cm
2.3- Máng đựng thức ăn xanh:
Nên thiết kế ở giữa 2 ô chuồng, vát hình chữ V hoặc ôm bên ngoài thành lồng chuồng phía trước có chấn song kích thước từ 1,5-2cm để thỏ tự rút được thức ăn nhưng không cào bới xuống đáy lồng hoặc thỏ con chui lên máng cỏ
2.4. Máng uống nước
Có thể là hệ thống nước uống tự động bằng bể áp lực và van uống, hoặc làm bằng chai úp ngược vào máng xi măng hoặc máng sành, chai có giá đỡ buộc vào thành lồng
2.5- Ổ đẻ cho thỏ:
Có thể làm bằng gỗ hoặc sử dụng các rổ nhựa có nắp đậy, kích thước dài 40 - 45cm, rộng 30 - 35cm, cao 20 - 25cm. Mặt trên ổ đẻ được đóng kín, cố định một nửa, còn nửa kia làm cửa ra vào, có nắp đậy bằng phên sắt thưa, kích thước 1,5cm có tác dụng chống chuột vào ăn thỏ con.
Lưu ý: Chuồng trại nuôi thỏ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chăn nuôi. Do thỏ có bộ lông dày, lại không có tuyến mồ hôi nên khả năng chịu nhiệt độ cao là rất thấp, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của thỏ là 25oc, độ ẩm từ 60 đến 80%. Biên độ nhiệt độ cho mùa đông: 15 - 20oC. Biên độ nhiệt độ cho mùa hè: 20 - 30oC. Trong khi mùa Hè ở tỉnh ta nhiệt độ có lúc lên đến hơn 39oC - 40oC  nên việc chống nóng cho thỏ là hết sức cần thiết. Nếu chăn nuôi thâm canh thì chuồng phải có hệ thống làm mát bằng nước và quạt thông gió, nếu nuôi hộ gia đình thì chuồng thỏ nên làm dưới bóng cây, những ngày trời nắng nóng có thể phun nước lên mái để hạ nhiệt độ. Bên cạnh đó, chuồng thỏ phải có chế độ thông thoáng hợp lý, mùa Hè, mở rèm cửa ở cả hai bên chuồng cả ngày lẫn đêm, mùa Đông, mở rèm cửa phía bên chuồng không bị gió lùa ban ngày và đóng lại ban đêm. Tuy vậy, không được để ánh nắng dọi trực tiếp vào lồng nuôi. Nền chuồng phải khô ráo, phải được dọn dẹp sạch sẽ hàng ngày, định kỳ phải dùng thuốc khử trùng để khử trùng chuồng nuôi. Đồng thời dọn chuồng nuôi phải tiến hành vệ sinh máng ăn, dọn ổ đẻ cho thỏ sạch sẽ.
Ngoài việc vệ sinh chuồng trại hàng ngày, công tác tổng vệ sinh chuồng trại cần tiến hành định kỳ để tẩy uế chuồng trại, hạn chế sự lây nhiễm của các loại nguồn bệnh cho thỏ, bằng cách phun thuốc sát trùng chuồng thỏ, tối thiểu 01 lần/ tháng, sát trùng lồng nuôi bằng đèn khò hoặc đốt bằng giẻ tẩm dầu. Thời gian định kỳ khò chuồng là hàng tháng, có thể 02 tháng/lần trong trường hợp đàn thỏ hoàn toàn sạch sẽ về bệnh dịch.
II- CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG
1.Chọn giống:
Thỏ được chọn để nuôi làm thỏ sinh sản phải đạt được các chỉ tiêu sau:
Ngoại hình bình thường: Lưng cong đều, 4 chân vững chắc, lông mượt mà, tai dựng, mắt sáng, 4 răng to đều chắc - khoẻ và không bị dài
Tăng trọng trung bình lúc nhỏ hơn 12 tuần tuổi phải lớn hơn 30 gam/ ngày.
Cơ quan sinh dục phát triển bình thường.
Lưu ý: 
- Con cái: 2 hàng vú phải đều, ít nhất phải có 8 núm vú, đầu thanh, khung xương chậu nở nang, cơ quan sinh dục không bị viêm nhiễm
- Con đực: Phải có tính hăng nhưng không ác, đầu thô - phình 2 bên má, 2 tinh hoàn to đều, dương vật to và thẳng.
- Tỷ lệ ghép phối giống: Thông thường một con đực phụ trách là 5-6 con cái. Số lượng con cái ít thì tỷ lệ thụ thai sẽ cao hơn nhưng cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ và thời điểm phối giống (nhiệt độ, thời tiết và yếu tố mùa vụ)..
2- Thức ăn, nước uống:
2.1- Thức ăn: Được chia làm 2 loại:
a, Thức ăn tinh:
Bao gồm các loại hạt: Ngũ cốc, đậu tương, khoai, sắn khô, khoai lang... phụ phẩm từ ngành công nghiệp như khô dầu lạc, khô dầu đậu tương..., sản phẩm phụ từ nhà bếp như cơm nguội…; thức ăn viên công nghiệp. Ở tỉnh ta hiện nay đang sử dụng chủ yếu loại cám thỏ Guyomarch được sản xuất tại Công ty liên doanh sản xuất thức ăn giữa Pháp với Viện Chăn nuôi Guyomarch-VCN, Chèm - Từ Liêm - Hà Nội. Đây là loại thức ăn viên sử dụng cho chăn nuôi thỏ bán thâm canh và thâm canh rất tốt.
b, Thức ăn thô xanh:
Thức ăn xanh cho thỏ rất đa dạng, có thể tận dụng được nhiều loại, như: Các loại cỏ lá tự nhiên; Rau quả xanh các loại (rau muống, rau lang, rau su hào, cải bắp, củ cải, cà rốt, bí ngô....); Các loại cỏ trồng guinea, chè khổng lồ, mía cây, lá sắn dây...
- Thức ăn thô xanh nên phối hợp càng nhiều loại rau, cỏ, lá càng tốt sẽ làm tăng tính ngon miệng và giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày của thỏ và nên chia làm nhiều bữa, đặc biệt là chú ý  ban đêm trước khi đi ngủ (khoảng từ 21-22 giờ) bổ sung thêm một lượt thức ăn thô xanh trong máng ăn cho thỏ vì thỏ là loài gặm nhấm nên khả năng sử dụng thức ăn vào ban đêm sẽ nhiều hơn ban ngày và hơn nữa khi nhiệt độ ban đêm thường thấp và mát mẻ hơn ban ngày nên làm cho thỏ có thể ăn được nhiều thức ăn hơn.
- Thức ăn tinh có thể chia 1-2 lần/ngày tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết hoặc mùa vụ mà có thể bổ sung lượng thức ăn tinh cho phù hợp với điều kiện sản xuất.
Lưu ý: Thức ăn thô xanh phải được rửa sạch trước khi cho ăn, không được dự trữ thức ăn xanh quá lâu ngày
Không lấy cỏ ở những nơi lầy lội và những nơi là bãi chăn thả các loại gia súc khác
Không nên cho ăn đơn thuần 1 loại cỏ lá hoặc những loại cỏ lá có nhiều nước (dây lang, rau muống) trong thời gian dài, dễ gây hiện tượng thiếu dinh dưỡng và mắc một số bệnh đường tiêu hoá như: Chướng bụng đầy hơi, đi ngoài...
Những loại củ, hạt to, cứng phải nghiền nhỏ hoặc cắt thành mảnh nhỏ cho thỏ dễ thu nhận.
2.3. Một số khẩu phần ăn cho thỏ
Tùy theo lứa tuổi hay thể trọng của thỏ mà chọn khẩu phần thức ăn cho phù hợp như trong bảng sau:
 
        Bảng 1: Một số khẩu phần thức ăn cho thỏ
 
Lứa tuổi                          Khẩu phần ăn
Thức ăn tinh (g) Thô xanh (g) Củ quả (g) Thức ăn khác (g)
0,5 – 1 kg 20 – 30 60 – 130 20 – 45 10 – 15
1 – 2kg 70 – 100 200 – 300 30 – 40 25 – 35
2 – 3kg 110 – 120 300 – 400 70 – 90 30 – 40
Đực giống và cái có chữa 200 600 – 800 150 – 200 50 – 60
Mẹ đang nuôi con 250 – 300 600 – 800 200 – 300 70 – 100
 
 
 3- Chăm sóc nuôi dưỡng
3.1- Một số thao tác kỹ thuật trong chăn nuôi thỏ sinh sản
a, Phát hiện động dục
Chu kỳ động dục của thỏ từ 12 đến 16 ngày. Thỏ mẹ sau khi sinh 03 ngày thì động dục, nhưng tùy theo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng để quyết định phối giống cho thỏ hay không, nếu phối giống lúc này ảnh hưởng không tốt đến thỏ con và thỏ  mẹ.
Phát hiện động dục ở thỏ chủ yếu dựa và việc quan sát các dấu hiệu động dục:
Biến đổi của cơ quan sinh dục: Âm hộ sưng tấy chuyển từ màu hồng sang hồng tươi rồi đến đỏ thẫm là kết thúc quá trình động dục.
Biến đổi về hệ thần kinh: Thỏ cái đứng yên cho thỏ đực đến gần và nâng đuôi cho thỏ đực nhảy phối.
 b, Phối giống
Phương pháp phối giống tốt nhất là phối trực tiếp 2 lần/ ngày vào buổi sáng sớm và chiều tối. Khi phối giống nên bắt thỏ cái đến lồng chuồng thỏ đực để tránh những tác động lạ làm giảm tính hăng của con đực.
Biểu hiện của phối giống thành công là con đực nhảy xong co mình ngã trượt xuống bên cạnh con cái và kêu lên.
b, Khám thai
Phương pháp chính xác nhất để xác định thỏ mẹ có mang thai hay không là khám trực tiếp bằng tay.
Thời gian khám thai vào ngày thứ 10-14 sau khi phối giống.
Thao tác khám: Dùng ngón cái và ngón trỏ, ngón giữa qua thành bụng ở phần xoang chậu của thỏ mẹ. Nếu thỏ mẹ có chửa thì thấy xuất hiện những cục tròn, trơn, mềm bằng đầu ngón tay nằm nối tiếp nhau.
c, Phân biệt thỏ đực và thỏ cái
Việc phát hiện sớm tính dục của đàn thỏ con từ lúc 21 ngày tuổi sẽ rất có lợi trong việc chọn giống và định hình đàn thỏ với tỷ lệ thích hợp theo yêu cầu chăn nuôi.
Con đực: Lỗ sinh dục tròn, lồi cao và cách xa lỗ hậu môn.
Con cái: Lỗ sinh dục vát hình lá lúa, có rãnh ở giữa và gần lỗ hậu môn hơn.
           3.2- Chăm sóc nuôi dưỡng các loại thỏ
a, Nuôi dưỡng thỏ hậu bị giống
Thỏ hậu bị từ 3 tháng tuổi trở đi phải được nhốt riêng từng ngăn lồng chuồng, nếu nhốt chung chúng sẽ cắn nhau và giao phối tự do.
Không nên cho thỏ hậu bị ăn quá nhiều các loại thức ăn giàu ting bột dễ làm thỏ quá béo, thỏ cái chậm động dục, thỏ đực không nhảy phối.
Cần đảm bảo vệ sinh môi trường nơi nuôi nhốt, thường xuyên kiểm tra cơ quan sinh dục và sức khoẻ, loại thải những con bị mắc bệnh hoặc cơ quan sinh dục phát triển không bình thường.
b, Nuôi thỏ đực giống
Nên nhốt thỏ đực giống cách xa thỏ cái để tăng tính hăng. Lồng chuồng thỏ đực giống phải rông rãi, sạch sẽ, phẳng, không có góc trú ẩn để thỏ dễ dàng phối.
Không nên cho thỏ đực giống ăn nhiều thức ăn giàu tinh bột, nên bổ sung các loại thức ăn giàu Vitamin: Cà rốt, bí đỏ, ngô hạt ủ mầm.... để tăng chất lượng tinh trùng.
c- Nuôi thỏ chửa
Thỏ chửa cần cho ăn nhiều thức ăn giàu vitamin A,D,E và tăng dần thức ăn giàu Protein để dưỡng thai tốt, thức ăn thô xanh có chứa nhiều nước thì phải ăn theo định lượng, nếu ăn quá nhiều thỏ dễ bị sảy thai do chướng hơi đầy bụng.
d, Nuôi thỏ đẻ và thỏ mẹ nuôi con
Chuẩn bị ổ đẻ chu đáo, đặt một ít rơm khô hoặc cỏ khô mềm vào trong ổ đẻ rồi đưa vào lồng chuồng thỏ mẹ đang chửa trước ngày dự kiến đẻ 2-3 ngày.
          Khi thỏ đẻ và nuôi con cần phải đảm bảo đầy đủ nước uống và thức ăn để tránh hiện tượng thỏ mẹ ăn con do thiếu khoáng và nước. Khi thỏ đẻ cần quan sát xem thỏ có đẻ ra ngoài ổ không, có nhổ lông bụng không để có tác động hỗ trợ kịp thời cho chúng như: Gom đàn con cho vào ổ, nhổ lông bụng của thỏ mẹ làm tổ cho đàn con cũng là làm lộ 2 hàng vú thỏ mẹ cho đàn con dễ bú.
Phải đảm bảo môi trường không khí, lồng chuồng, ổ đẻ, thức ăn, nước uống sạch.
e, Nuôi dưỡng thỏ con theo mẹ
Đảm bảo nhiệt độ môi trường trong ổ đẻ ổn định ở 30-320 C. Hàng ngày phải kiểm tra ổ đẻ và đàn con để loại bỏ phần lót ổ ướt và những con chết, đồng thời xem thỏ con có được bú no hay không. Nếu thỏ con được bú no thì da căng phẳng, bầu sữa căng phồng màu hồng ở phần khoang bụng, nếu thỏ con đói thì da nhăn nheo, bụng lép và cựa quậy liên tục. Khi đó phải bắt thỏ mẹ vào trong ổ và giữ cho thỏ con bú.
Sau khi thỏ mẹ nhảy vào ổ cho đàn con bú xong nên đậy nắp ổ đẻ lại để chống chuột hoặc tránh hiện tượng thỏ mẹ nhảy vào cào bới ổ làm đàn con mất yên tĩnh
Trường hợp thỏ mẹ đẻ quá nhiều con (nhiều hơn 8 con) thì phải san bớt thỏ con sang đàn khác hoặc loại bớt những con yếu.
Sau 18-20 ngày, lúc này chu kỳ sữa của thỏ mẹ bắt đầu giảm, nên thỏ con tự nhảy ra khỏi ổ để tập ăn, do vậy phải bỏ ổ đẻ ra khỏi lồng, đồng thời phải ưu tiên bổ sung thêm lượng thức ăn ngon vào trong khẩu phần ăn của thỏ mẹ để thỏ con không bị chết đói
Sau 30-35 ngày tuổi nên cai sữa đàn thỏ con, bằng cách chuyển con thỏ mẹ sang ô chuồng khác.
           f, Kỹ thuật nuôi dưỡng thỏ thịt
Sau khi cai sữa chuyển sang nuôi chế độ thỏ thịt cần cho uống thuốc phòng bệnh cầu trùng. Không nên nhốt quá chật trội trong 1 ô chuồng mà phải thường xuyên giãn đàn thỏ sang các ô chuồng khác theo tường độ tuổi; thức ăn, nước uống nên cung cấp tự do hàng ngày, đặc biệt là các loại thức ăn có chứa nhiều tinh bột để phát huy tối đa khả năng lớn của chúng
III- PHÁT HIỆN VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở THỎ
1- Bệnh ghẻ
Là bệnh ký sinh trùng ngoài da rất phổ biến và gây tác hại lớn trong chăn nuôi thỏ. Trong môi trường ô nhiễm ghẻ, mất vệ sinh, ghẻ có thể truyền nhiễm, ký sinh trên da thỏ thông qua các đồ vật, lồng chuồng, người chăn nuôi tiếp xúc với thỏ
Bệnh ghẻ thường thấy ở 2 dạng:
Ghẻ đầu: Xuất hiện ở mí mắt, mũi, mép, cổ gáy, 4 chân, hậu môn và cơ quan sinh dục
Ghẻ tai: Xuất hiện ở trong lỗ tai và vành tai
Triệu chứng lâm sàng: Ngứa và rụng lông
Thỏ lấy 2 chân trước cào vuốt tai vào mồm, cắn, lắc đầu, dụi đầu vào thành lồng hoặc đồ vật xung quanh, 2 chân trước vẫy vẫy, 2 chân sau dâm dật xuống đáy lồng. Tại các điểm ghẻ lúc đầu thấy rụng lông sau đó thấy vẩy dầy cộp dần lên. Thỏ không yên tĩnh, kém ăn, mất ngủ, gầy dần rồi chết
Phòng bệnh:
Phải thường xuyên kiểm tra cá thể để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời. Cách ly con bị ghẻ và vệ sinh sát trùng lồng chuồng, dụng cụ chăn nuôi khu vực quanh con bệnh
Điều trị: Sử dụng thuốc trị ghẻ Ivermectin, tiêm dưới da cổ, liều lượng :0,5ml/ 2kgP
2- Bệnh cầu trùng
          Bệnh do đơn bào ký sinh gây nên trong điều kiện vệ sinh kém, mật độ nuôi nhốt quá trật trội, ẩm thấp, thiếu dinh dưỡng. Có 2 dạng cầu trùng: Cầu trùng ruột và cầu trùng gan
Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng mắc nhiều nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2-3 tháng tuổi
Cầu trùng sau khi xâm nhập vào cơ thể chúng gây phá huỷ tế bào gan và tế bào ruột, đồng thời tiết độc tố làm thỏ ở trạng thái nhiễm độc gầy yếu dần rồi chết
Triệu chứng lâm sàng:
Cầu trùng ruột: Thỏ xù lông, kém ăn, gầy yếu, đôi khi gây ỉa chảy, nếu kết hợp với vi khuẩn viêm ruột thì phân có lẫn máu
Cầu trùng gan: Cũng có triệu chứng lâm sàng giống cầu trùng ruột, trước khi chết thỏ quay vòng dãy dụa
Phòng bệnh:
Cần cho uống thuốc phòng ngay sau khi thỏ được cai sữa, sử dụng thuốc Anti-coc, hoặc các loại Sulfamit như Sulfaquinoxalin, Sulfathiazol, Sulfadimethoxin ... cho uống trực tiếp hay trộn với thức ăn tinh với liều 0,1- 0,15g trên 1kg thể trọng, phòng với liệu trình: Sử dụng 5 ngày, nghỉ 3 ngày sau đó sử dụng tiếp 5 ngày. Thời gian cho thỏ uống thuốc phòng định kỳ là 06 tháng.
Chuồng trại, máng ăn, máng uống phải thường xuyên vệ sinh, sát trùng, thức ăn, nước uống phải cung cấp đầy đủ hàng ngày.
Nếu trong đàn có một số con chết vì bệnh cầu trùng thì cho uống thuốc như trên với liều lượng gấp đôi. Tuy nhiên, việc điều trị sẽ có kết quả rất thấp
3- Bệnh bại huyết
Là bệnh truyền nhiễm do 1 loại vi rut gây ra và có tính lây lan rất lớn. Trong môi trường nhiễm bệnh, điều kiện vệ sinh, nuôi dưỡng kém, bệnh bùng phát rất nhanh, rộng và gây chết thỏ hàng loạt. Bệnh chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi lớn hơn 1,5 tháng tuổi
Triệu chứng lâm sàng:
Thỏ vẫn ăn uống bình thường, đôi khi thỏ lờ đờ, bỏ ăn trong thời gian ngắn rồi chết. Trước khi chết thỏ dãy dụa, quay vòng, máu ộc ra ở mồm, mũi; gan sưng to, bở; vành tim, phổi, khí quản xuất huyết.
Điều trị: Việc điều trị không có kết quả
Phòng bệnh: Tiêm phòng định kỳ bằng văc xin VHD bại huyết
Liều lượng: 1ml/ con; tiêm 6 tháng 1 lần
Thường xuyên vệ sinh sát trùng chuồng trại để tránh sự tồn tại và xâm nhập của mầm bệnh
 4- Bệnh tiêu chảy
Thực chất là do rối loạn tiêu hoá do chuyển đổi nguồn thức ăn quá đột ngột, do ăn nhiều rau lá, củ quả chứa nhiều nước hoặc bị nhiễm bẩn
Bệnh thường mắc ở lứa tuổi sau cai sữa đến 3 tháng tuổi
Triệu chứng:
Phân thỏ lúc đầu nhão sau lỏng dần, dính bết quanh hậu môn. Thỏ lờ đờ, bỏ ăn, uống nước nhiều, đôi khi thỏ bị chướng hơi đầy bụng rồi chết
Phòng trị bệnh:
Khi thấy phân thỏ nhão thì đình chỉ ngay các loại thức ăn, nước uống và các yếu tố môi trường mất vệ sinh
Cho ăn hoặc uống nước chiết của các loại lá, quả có chất chát: Búp ổi, búp chè, lá chuối, quả hồng xiêm. Nếu bị nặng nên cho uống thêm thuốc Colinorgen với liều lượng 1gam/ 10kgP
Thức ăn, nước uống phải sạch sẽ, hạn chế sự thay đổi nguồn thức ăn quá đột ngột. Những loại thức ăn chứa nhiều nước: Dây lang, rau muống nên cho ăn theo định lượng.
5- Bệnh viêm phổi ở thỏ
a- Một số nhận biết về bệnh:
- Nguyên nhân gây bệnh:
Do thay đổi thời tiết đột ngột từ nóng sang lạnh hoặc từ lạnh sang nóng; do không khí môi trường nuôi thỏ bị ô nhiễm; do ẩm độ trong chuồng nuôi quá cao > 90%; do các loại vi khuẩn xâm nhập qua đường hô hấp của thỏ.
- Lứa tuổi mắc bệnh: Bệnh thường xảy ra ở tất các các giai đoạn tuổi của thỏ.
- Triệu chứng:
Thể trạng cơ thể: Gầy yếu, gầy xác đi khi nhiễm bệnh, lông xù; nhịp thở chậm hơn bình thường, thở rất khó khăn, đôi khi thỏ phải há cả miệng ra để thở. Tiếng thở: Phát ra tiếng kêu khò khè, đứng từ xa cũng có thể phát hiện ra; nhiệt độ cao hơn bình thường do thỏ bị sốt.
   - Phương pháp điều trị: Tiêm thuốc Kanamycin với liều 01ml/3 kg thể trọng trong 3 ngày liền.
Chú ý, vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ; mùa Đông: Cần phải che chắn chuồng kín vào ban đêm để tránh hiện tượng gió lạnh lùa vào, nhưng ban ngày phải mở các ô cửa thoáng để không khí trong chuồng được thông thoáng. Mùa Hè mở hết các ô thoáng chuồng nuôi.
5- Bệnh viêm mũi ở thỏ
-Nguyên nhân gây bệnh:
Do hít phải bụi trong thức ăn tinh; do thay đổi thời tiết đột ngột từ nóng sang lạnh hoặc từ lạnh sang nóng; do không khí môi trường nuôi thỏ bị ô nhiễm, không thông thoáng đặc biệt là vào những ngày mùa đông cửa chuồng đóng kín; do ẩm độ trong chuồng nuôi quá cao > 90%; do các loại vi khuẩn xâm nhập qua đường hô hấp của thỏ.
- Lứa tuổi mắc bệnh: Bệnh thường xảy ra ở tất các các giai đoạn tuổi của thỏ.
- Triệu chứng lâm sàng:
Nếu ở dạng nhẹ thì cơ thể thỏ vẫn bình thường, nếu nặng thì thỏ gầy yếu, chậm chạp, mệt mỏi; mũi có chứa đầy dịch và có thể dịch chảy ra ngoài thấm ướt vùng lông xung quanh mũi, thỏ hắt hơi liên tục và thường lấy hai chân trước dụi mũi, lông phía trong bàn chân trước rối, dính bết lại. Nhịp thở, tiếng thở: Chậm hơn bình thường và phát ra tiếng khò khè, thỏ bị ngạt mũi do dịch tiết.
- Phương pháp điều trị:
Khi thỏ mới bị viêm mũi cần phải thay đổi môi trường hợp vệ sinh và nhỏ thuốc như Chloramphenicol, Streptomycin, Kanamycin vào hai lỗ mũi, mỗi ngày nhỏ hai lần cho đến khi khỏi. Nếu bị nặng thì cần tiêm thêm Streptomycin liều 0,1g/kg thể trọng hoặc tiêm Kanamycin với liều 0,05 g/kg thể trọng trong 3 ngày liền.
Chú ý: Vệ sinh môi trường chăn nuôi, giữ nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng phù hợp; mật độ nuôi nhốt phù hợp: từ 5-6 con cai sữa; 3-4 con thỏ hậu bị hoặc 01 con thỏ sinh sản/ô chuồng 0,45-0,5 m2;  không cho thỏ ăn những loại thức ăn nghiền bột mịn, khô, gây bụi.
 IV- QUY TRÌNH CHUNG ÁP DỤNG CHO CHĂN NUÔI THỎ
1-Quy trình hàng ngày.
1.1-Buổi sáng:
 - Kiểm tra chung toàn đàn; phát hiện, điều trị và cách ly những con ốm.
- Kiểm tra phát hiện động dục; Phối giống; Khám thai
- Vệ sinh máng thức ăn; Cho ăn thức ăn tinh và thức ăn thô xanh; bổ sung nước uống
- Quét dọn vệ sinh lồng chuồng, thu phân rác và vệ sinh quanh khu chăn nuôi thỏ
- Kiểm tra ổ đẻ và đàn con; đặt và cất ổ đẻ, cai sữa thỏ con nếu có
 1.2 -Buổi chiều:
 - Chuẩn bị thức ăn xanh và thức ăn tinh cho ngày hôm sau
 - Bổ sung thêm thức ăn tinh và thức ăn thô xanh
 - Phối giống nhắc lại
 2- Phòng bệnh.
 - Định kỳ phun thuốc sát trùng lồng chuồng, khu vực xung quanh chuồng trại  2 tháng/ lần.
 - Định kỳ tiêm vắc xin phòng bệnh bại huyết cho đàn thỏ: 6 tháng/ lần. Lứa tuổi tiêm thích hợp: lúc 35- 40 ngày tuổi, tiêm nhắc lại sau 15-20 ngày, sau đó tiêm nhắc lai 5-6 tháng 1 lần như thỏ sinh sản. Liều lượng theo chỉ dẫn.
Nguyễn Nam Long
 
Trang thông tin điện tử tổng hợp Hội Nông dân tỉnh Quảng Bình  

Địa chỉ: Số 43 - Nguyễn Hữu Cảnh - TP. Đồng Hới
Điện thoại: (02322) 240528 Fax: (02323) 824563

Email: nhanongquangbinh@gmail.com
Chịu trách nhiệm xuất bản: Ông Lê Công Toán, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh.