MENU CHÍNH
Đại hội Hội Nông dân huyện Quảng Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2018-2023
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 0


Hôm nayHôm nay : 476

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10490

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1681271

Giá cả nông sản

Trang nhất » Văn bản điều hành

Tên / Số / ký hiệu : NQ
Về việc / trích yếu

NGHỊ QUYẾT Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2018-2023

Ngày ban hành 08/10/2018
Loại văn bản Nghị quyết
Đơn vị / phòng ban
Lĩnh vực Văn phòng
Người ký duyệt
Cơ quan / đơn vị ban hành Hội Nông dân tỉnh
Tải về máy Đã xem : 81 | Đã tải: 6
Nội dung chi tiết
                    ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HND            CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM   
     TỈNH QUẢNG BÌNH LẦN THỨ X                Độc lập - Tự do - Hạnh phúc  
                                   *       
 
NGHỊ QUYẾT
Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ  2018-2023
 
Đại hội Đại biểu Hội Nông dân tỉnh Quảng Bình lần thứ X, Nhiệm kỳ 2018 -2023, diễn ra từ ngày 19 đến ngày 20/9/2018 tại Trung tâm Văn Hoá tỉnh Quảng Bình. Tổng số đại biểu triệu tập 265 đại biểu. Đại biểu có mặt 264. Đại hội được nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Hoàng Đăng Quang, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và đồng chí Phạm Tiến Nam, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Qua gần 2 ngày làm việc với tinh thần nghiêm túc, đoàn kết, dân chủ, trí tuệ và trách nhiệm cao của các đại biểu, Đại hội đã nghe và thảo luận các nội dung do Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khóa IX trình,
QUYẾT NGHỊ:
I. Nhất trí thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khoá IX tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2013 - 2018 và mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2018 - 2023. Giao cho Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, căn cứ vào kết quả biểu quyết và những kết luận của Đại hội để hoàn chỉnh văn bản và ban hành chính thức.
Đại hội nhất trí:
1. Về phương hướng chung
Phát huy tinh thần “Dân chủ - Đoàn kết - Đổi mới - Phát triển”, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp, kết hợp chặt chẽ giữa tập hợp rộng rãi và nâng cao chất lượng hội viên, xây dựng tổ chức Hội các cấp vững mạnh; Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nông dân gắn với thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và đột phá của Hội; Thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, quyết định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Trực tiếp và phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn; Tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh; Nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức Hội, vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, góp phần đưa tỉnh Quảng Bình phát triển nhanh và bền vững.
 2. Một số chỉ tiêu cơ bản
1. 100% cán bộ, hội viên nông dân được tuyên truyền, phổ biến, học tập các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nghị quyết của Hội.
2. Kết nạp từ 20.000 - 25.000 hội viên mới. Phấn đấu hàng năm có trên 95% cơ sở, chi, tổ Hội đạt khá và vững mạnh.
3. 100% cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đạt chuẩn theo quy định. 100% cán bộ cơ sở và chi, tổ Hội được tập huấn nghiệp vụ công tác Hội.
4. 100 % chi Hội có quỹ Hội; bình quân chân quỹ đạt 70.000 đ/hội viên.
5. Quỹ Hỗ trợ nông dân tăng bình quân 15%/năm trở lên.
6. Hàng năm có trên 80% hộ hội viên đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp; trong đó có 60% số hộ đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp. Phấn đấu trực tiếp giúp đỡ trên 5.000 hộ nông dân thoát nghèo/nhiệm kỳ.
7. Vận động 100% hộ hội viên nông dân sản xuất, kinh doanh nông sản đăng ký, cam kết đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
8. 100% Hội Nông dân cấp huyện, cơ sở tổ chức được hoạt động tư vấn, dịch vụ hỗ trợ dịch vụ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
9. Các cấp Hội phấn đấu xây dựng được 50 tổ hợp tác, hợp tác xã phát triển sản xuất theo hướng chuỗi giá trị.
10. Có 100% Hội Nông dân các cấp làm tốt công tác vận động hội viên, nông dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và xây dựng ít nhất 01 mô hình về bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
11. Phấn đấu 100% hội viên tham gia bảo hiểm y tế và 100% các cấp Hội làm tốt công tác vận động nông dân thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.
12. 100% Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện, 50% Hội cấp xã tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân đi học tập kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở các địa phương trong nước và ngoài nước. 
 13. Trực tiếp và phối hợp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 500 người/năm. Tỷ lệ có việc làm, sử dụng nghề sau đào tạo đạt 70%. Phối hợp tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 50.000 lượt người/năm.
14. 100% cán bộ Hội và 80% hội viên, nông dân trở lên phải tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trực tiếp giải quyết và phối hợp giải quyết 100% đơn, thư khiếu nại, tố cáo của nông dân gửi tới các cấp Hội theo thẩm quyền. Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho 100 % hội viên nông dân khi có yêu cầu trợ giúp.
15. Hàng năm có trên 90% số hộ nông dân đăng ký phấn đấu, 85% trở lên số hộ đạt danh hiệu Gia đình Văn hoá.
II. Thông qua Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh khoá IX, nhiệm kỳ 2013-2018.
III. Thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến của cán bộ, hội viên nông dân đóng góp vào dự thảo văn kiện và Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia sữa đổi, bổ sung Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam trình Đại hội VII Hội Nông dân Việt Nam. Giao cho Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khoá X tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đại hội để bổ sung, hoàn chỉnh văn bản, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
IV. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khoá X, nhiệm kỳ 2018-2023 gồm 31 đồng chí. Tại hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành khóa X đã bầu Ban Thường vụ gồm 09 đồng chí; đồng chí Lê Công Toán được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch, các đồng chí Hoàng Thị Hà, Nguyễn Nam Long đã tín nhiệm bầu giữ chức Phó Chủ tịch. Đại hội cũng đã bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội Đại biểu Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII gồm 14 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết.  
V. Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh, nhiệm kỳ 2018-2023 tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Đồng chí Hoàng Đăng Quang - UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và Đồng chí Phạm Tiến Nam - Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, để xây dựng chương trình, kế hoạch, vận động cán bộ, hội viên nông dân thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ và chương trình công tác trọng tâm của Hội, nhiệm kỳ 2018-2023.
Đại hội Đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2018-2023 kêu gọi toàn thể cán bộ, hội viên nông dân trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng với ý chí tự lực, tự cường đoàn kết, nhất trí khắc phục khó khăn, thách thức; nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội, đại biểu Hội Nông dân tỉnh khoá X đã đề ra, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI./.
 
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỘI NÔNG DÂN TỈNH
LẦN THỨ X ( NHIỆM KỲ 2018-2023)
 
 
 
 
 
 
HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
BCH HND TỈNH QUẢNG BÌNH
*
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                  Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
XÂY DỰNG HỘI NÔNG DÂN QUẢNG BÌNH VỮNG MẠNH,
PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN
TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
 
(Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khóa IX
 tại Đại hội đại biểu lần thứ X, nhiệm kỳ 2018-2023)
 
Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh Quảng Bình lần thứ X diễn ra trong thời điểm toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang ra sức thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Với tinh thần “Dân chủ, đoàn kết, đổi mới, phát triển”, Đại hội có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2013 - 2018; quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2018 - 2023, quyết tâm đưa phong trào nông dân và hoạt động Hội phát triển vững mạnh toàn diện, góp phần thúc đẩy kinh tế -xã hội tỉnh nhà phát triển nhanh và bền vững.
 
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ 2013 - 2018
 
A. TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN
 
1. Tình hình sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển khá toàn diện, cơ cấu cây trồng vật nuôi có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị, chất lượng gắn với thị trường tiêu thụ. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 4,5%/năm. Sản lượng lương thực từ 28,4 vạn tấn năm 2013 tăng lên trên 31,0 vạn tấn năm 2018. Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, gia trại gắn với vệ sinh môi trường và an toàn dịch bệnh, giá trị sản xuất chăn nuôi bình quân tăng 4%/năm; tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tăng từ 43,2% năm 2013 lên 50,4% năm 2018. Sản xuất lâm nghiệp từng bước xã hội hóa và chuyển đổi theo hướng giá trị, công tác phát triển, sử dụng rừng hợp lý và hiệu quả đã nâng cao giá trị từ rừng, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt trên 630 tỷ đồng, độ che phủ rừng tăng từ 66,8% năm 2013 đến nay lên 67,0%. Lĩnh vực thủy sản chuyển dịch đúng hướng, phát triển đồng bộ cả khai thác và nuôi trồng, sản lượng thuỷ sản từ 48,2 ngàn tấn năm 2013 tăng lên trên 71 ngàn tấn năm 2018. Đất lúa kém hiệu quả được tập trung chuyển đổi sang cây trồng khác với diện tích 2.206 ha, thu nhập cao hơn từ 1,5-8 lần so với trồng lúa; diện tích liên kết sản xuất theo cánh đồng lớn với 7.654ha; đã hình thành một số cơ sở trồng rau, quả, hoa áp dụng công nghệ cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, thân thiện môi trường. Từ những kết quả trên đây đã góp phần quan trọng làm chuyển biến tích cực trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp. Thành tựu đạt được trong sản xuất nông nghiệp có vai trò đóng góp quan trọng của giai cấp nông dân và Hội Nông dân toàn tỉnh.
2. Tình hình nông dân
Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được cải thiện, trình độ dân trí được nâng lên và ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; dân chủ được mở rộng, quyền làm chủ của nông dân được phát huy. Thu nhập bình quân của người dân nông thôn đạt 24,84 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh 9,48%, hộ cận nghèo 12,03%. Nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; phấn khởi về kết quả các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhất là hội nghị lần thứ tư, năm, sáu, bảy (khóa XII); chủ trương, chính sách của Quốc hội, Chính phủ, cấp ủy, chính quyền các cấp về hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đồng thời, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Vị thế, vai trò của giai cấp nông dân và tổ chức Hội Nông dân ngày càng được nâng cao, thực sự xứng đáng với vai trò là trung tâm, nồng cốt trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
3. Tình hình nông thôn
Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hình thức tổ chức sản xuất được đổi mới, các làng nghề truyền thống tiếp tục được khôi phục và phát huy, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, giảm dần lao động nông nghiệp. Kết cấu hạ tầng nông thôn gắn với phát triển đô thị được chỉnh trang, mở rộng, cải thiện đáng kể, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và hưởng thụ của nhân dân. Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều kết quả tích cực, khơi dậy vai trò chủ thể, tự giác của người dân. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững. Việc giải quyết việc làm, đào tạo nghề, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm. Công tác phòng chống tệ nạn xã hội được tăng cường, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, thu nhập và đời sống người dân từng bước được cải thiện.  
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức do diễn biến bất thường của thiên tai, dịch bệnh; sự cố môi trường biển năm 2016 và bão, lũ thường xuyên đã ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất của người dân. Quá trình tích tụ ruộng đất hiện nay một số địa phương diễn ra chưa mạnh. Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ tiên tiến vào sản xuất chưa nhiều. Việc triển khai tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên một số lĩnh vực còn chậm, phần lớn quy mô sản xuất còn nhỏ, chủ yếu sản xuất thô, chưa có thương hiệu, sức cạnh tranh kém, vấn đề tiêu thụ nông sản còn gặp nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng nông thôn ở vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc, miền núi còn chưa đồng bộ. Chất lượng nguồn lao động nông thôn còn thấp. Kết quả giảm nghèo ở một số nơi chưa cao; ý chí thoát nghèo, vươn lên làm giàu của một bộ phận nông dân chưa quyết liệt. An ninh trật tự ở một số khu vực nông thôn vẫn còn diễn biến phức tạp. 
 
B. KẾT QUẢ CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN 
I. CÔNG TÁC XÂY DỰNG HỘI
1. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng
Nhiệm kỳ qua, các cấp Hội đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Hội; cổ vũ, động viên cán bộ, hội viên, nông dân vượt qua khó khăn, thực hiện có hiệu quả 3 phong trào thi đua, 3 nhiệm vụ trọng tâm của Hội, chương trình phát triển kinh tế-xã hội trọng điểm của tỉnh, địa phương. Tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị của đất nước, địa phương; biểu dương mô hình, điển hình tiên tiến, nhân tố mới trong sản xuất, kinh doanh; phổ biến tiến bộ khoa học, công nghệ; giáo dục truyền thống, đạo đức cách mạng gắn với đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phong trào thi đua “Dân vận khéo”, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.  
Công tác tuyên truyền được đổi mới phù hợp với từng vùng miền, từng đối tượng hội viên, nông dân, với nhiều hình thức phong phú, sinh động: tuyên truyền thông qua hội nghị chuyên đề, toạ đàm, đối thoại, hội thi, hội diễn, tập huấn, sinh hoạt chi, tổ Hội, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền miệng. Các cấp Hội thường xuyên bám sát cơ sở kịp thời nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của hội viên nông dân để tổ chức tuyên truyền vận động, đồng thời phản ánh những đề xuất, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nông dân với cấp ủy Đảng, chính quyền và Hội cấp trên. Trong nhiệm kỳ, các cấp Hội đã tổ chức 15.705 buổi tuyên truyền cho trên 1.456.440 lượt cán bộ, hội viên nông dân, góp phần tích cực đưa nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, khơi dậy sức mạnh đoàn kết, tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng, Nhà nước. 
2. Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội và phát triển hội viên
Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và tổ chức phong trào nông dân. Đảng đoàn, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đã lãnh đạo các cấp Hội tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân tỉnh khóa IX gắn với thực hiện Nghị quyết 06-NQ/HNDTW của Ban Chấp hành Hội Nông dân Việt Nam khóa V về “tiếp tục xây dựng Hội Nông dân các cấp vững mạnh”; Đề án “Nâng cao vai trò trách nhiệm của Hội Nông dân Quảng Bình trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Quảng Bình giai đoạn 2010-2020” theo Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư; Đề án số 24-ĐA/HNDTW ngày 23/6/2016 của Ban Thường vụ Trung ương Hội về “Xây dựng chi hội nghề nghiệp, tổ hội nghề nghiệp”; Đề án “Xây dựng Chi hội là đơn vị hành động” của Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh; Chỉ thị 08-CT/TU ngày 17/10/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 59-CT/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị (Khoá VIII) về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn".
Các cấp Hội tích cực tham mưu cấp ủy đảng để xây dựng, kiện toàn bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ Hội đảm bảo đủ số lượng, nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, xây dựng tổ chức Hội các cấp vững mạnh toàn diện. Qua đánh giá hàng năm, 100% Hội Nông dân huyện, thành phố, thị xã đạt vững mạnh, trên 95% cơ sở, 85% chi, tổ Hội đạt khá và vững mạnh. Các cấp Hội đã chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi Hội, tổ Hội theo 6 nội dung Kết luận số 62-KL/TW ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị về “tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Tập trung hướng dẫn xây dựng các chi hội, tổ hội nghề nghiệp, đến nay đã thành lập 18 chi Hội và 122 tổ Hội nghề nghiệp. Chú trọng sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt lồng ghép nhiều nội dung liên quan mật thiết đến đời sống, sản xuất của hội viên, nông dân.
Công tác phát triển gắn với nâng cao chất lượng hội viên được các cấp Hội triển khai có hiệu quả, trong 5 năm đã phát triển mới 30.548 hội viên, nâng số hội viên toàn tỉnh hiện nay là 168.925 người, chiếm 55,8% so với lao động nông thôn trong độ tuổi, tăng 5,6% so với đầu nhiệm kỳ; chiếm 89,8% so với số hộ nông lâm ngư nghiệp; có 23.728 hội viên là đảng viên, tăng 4% so với đầu nhiệm kỳ. Đến nay 100% chi hội có Quỹ Hội, trong nhiệm kỳ toàn tỉnh đã phát triển 7,5 tỷ đồng, bình quân đạt trên 50.000đ/hội viên. Việc thu, nộp Hội phí, quản lý và sử dụng Hội phí đúng quy định của Điều lệ Hội. Đồng thời, coi trọng công tác cán bộ từ khâu đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quy hoạch, bố trí đến sử dụng đội ngũ cán bộ Hội theo phân cấp quản lý. Trong nhiệm kỳ, đã có 2.736 cán bộ Hội các cấp được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội; 175 lượt cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị. Đội ngũ cán bộ Hội được trẻ hóa, có tâm huyết, nhiệt tình với công tác Hội, phong trào nông dân, góp phần nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng, nhiệm vụ chính trị của Hội.
Công tác chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp Hội được chú trọng đổi mới. Ban Chấp hành các cấp Hội phát huy tính tích cực, chủ động trong công tác tham mưu cho cấp uỷ đề ra nhiều chủ trương, giải pháp chỉ đạo, tạo điều kiện cho tổ chức Hội hoạt động có hiệu quả. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành vừa có tính toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm. Thường xuyên bám sát cơ sở, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, làm tốt công tác đại diện cho giai cấp nông dân trong việc đóng góp xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan đến nông dân, nông nghiệp và hoạt động của Hội. Triển khai ký kết chương trình phối hợp hoạt động với trên 25 tổ chức, ban, ngành liên quan để đẩy mạnh hoạt động tư vấn, dịch vụ, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh.
3. Công tác kiểm tra, giám sát
Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp đã xây dựng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát theo định kỳ và theo từng chuyên đề. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả chương trình kiểm tra, giám sát đã đề ra. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc thực hiện Điều lệ Hội, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch, các chương trình hành động của Hội, hoạt động vay vốn, chương trình, dự án, phong trào thi đua của Hội; thực hiện “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Quyết định 673/QĐ-TTg, Quyết định 81/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Trong nhiệm kỳ, các cấp Hội đã tổ chức 6.679 cuộc kiểm tra, giám sát. Qua kiểm tra, giám sát đã kịp thời biểu dương, nhân rộng những cách làm hay, việc làm tốt, những mô hình, điển hình tiên tiến trong các cấp Hội và hội viên nông dân; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót và có biện pháp khắc phục khuyết điểm, hạn chế, nâng cao nhận thức, ý thức kỷ luật của cán bộ, hội viên nông dân, hạn chế tiêu cực, sai phạm, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cấp Hội. Công tác kiểm tra, giám sát góp phần thực hiện dân chủ cơ sở, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân, hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp, phát sinh điểm nóng, ổn định an ninh trật tự ở địa phương.
4. Công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu khoa học
Hàng năm, Hội Nông dân các cấp trong tỉnh xây dựng các kế hoạch nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đề xuất thực hiện các đề tài, dự án, mô hình sản xuất ứng dụng tại các địa phương đem lại hiệu quả và tăng thu nhập cho nông dân. Các cấp Hội đã tổ chức 17 lớp tập huấn ứng dụng kết quả đề tài khoa học công nghệ đã nghiệm thu với gần 800 hội viên tham gia, như đề tài nuôi lợn bàng hệ thống làm mát khép kín, nuôi gà trên đệm lót sinh học, chăn nuôi thỏ Newzealand, trồng lúa theo phương pháp cải tiến SRI, trồng keo lai nuôi cấy mô, trồng các loại rau củ quả sạch trong nhà màng. Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất theo chuỗi đã trang bị cho nông dân kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Chương trình phối hợp giữa Hội Nông dân và ngành KH&CN mang lại kết quả thiết thực; Hội tổ chức các đoàn tham quan, học tập kinh nghiệm những mô hình làm ăn có hiệu quả tại các tỉnh. Tuyên truyền các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động sáng tạo và ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào thực tiễn sản xuất; hỗ trợ nông dân phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Hỗ trợ nông dân tham gia cuộc thi sáng tạo khoa học công nghệ của tỉnh, cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông”, Chương trình “Tôn vinh Sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu” do Trung ương Hội tổ chức. Kịp thời tổ chức sơ kết, tổng kết các chương trình phối hợp, Nghị quyết của Hội Nông dân các cấp, các Nghị quyết của Đảng nhằm rút kinh nghiệm thực tiễn để đề ra nhiệm vụ, giải pháp phù hợp tình hình trong giai đoạn hiện nay.
5. Công tác Thi đua - Khen thưởng
Các cấp Hội thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức thi đua, khen thưởng, triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 34-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Chú trọng khen thưởng những người trực tiếp lao động sản xuất, phát huy tính tích cực, sáng tạo, tạo động lực trong cán bộ, hội viên, nông dân. Việc tổ chức các phong trào thi đua của Hội gắn với các cuộc vận động do cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận phát động. Các tiêu chuẩn, chỉ tiêu thi đua được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện từng địa phương. Công tác bình chọn, xếp loại thi đua được thực hiện chặt chẽ, khách quan, bảo đảm nguyên tắc, thủ tục. Quan tâm công tác sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua. Việc phát hiện, xây dựng, biểu dương, khen thưởng gương người tốt, việc tốt được chú trọng, nâng cao tính giáo dục và động viên, khích lệ phong trào.
Nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh đã tổ chức hội nghị tổng kết phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững; hội nghị điển hình tiên tiến; tổng kết chuyên đề về xây dựng tổ chức Hội, công tác tư tưởng - văn hoá, an ninh, quốc phòng, thể dục thể thao, giáo dục pháp luật. Hàng năm, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức biểu dương, khen thưởng nông dân tiêu biểu trực tiếp lao động sản xuất trên các lĩnh vực. Trong nhiệm kỳ qua, tập thể và cán bộ, hội viên nông dân toàn tỉnh đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lao động hạng Ba; 01 Cờ thi đua và 19 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 01 Cờ thi đua xuất sắc và 137 Bằng khen của Trung ương Hội; 20 Bằng khen của các bộ, ngành Trung ương; 168 Bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh; 685 Kỷ niệm chương "Vì giai cấp Nông dân Việt Nam"; 156 Bằng khen, 296 Giấy khen của Hội Nông dân tỉnh; 3.106 Giấy khen của Ban Chấp hành Hội Nông dân các huyện, thành phố, thị xã. Hàng năm, Hội Nông dân tỉnh lựa chọn, giới thiệu nông dân tham gia bình chọn “Nông dân Việt Nam xuất sắc” trong chương trình “Tự hào nông dân Việt Nam”, đến nay đã có 5 hội viên nông dân được lựa chọn và tôn vinh.
II. VAI TRÒ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG THAM GIA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1. Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững
Được xác định là phong trào trọng tâm, xuyên suốt trong các phong trào thi đua của Hội, hàng năm các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo, phát động, hướng dẫn triển khai thực hiện phong trào. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng lớn; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường. Khuyến khích phát triển các loại hình kinh tế tập thể phù hợp với từng địa bàn, từng ngành nghề và trình độ phát triển ở từng khu vực. Tích cực khai thác tiềm năng, lợi thế về nguồn vốn, đất đai, lao động và điều kiện cụ thể của từng hộ gia đình để đăng ký thực hiện phong trào.
Thực hiện phong trào thi đua, các cấp Hội đã làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nên hàng năm có trên 125.000 hộ đăng ký thi đua đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, chiếm trên 87% so với số hộ có hội viên. Trong sản xuất, kinh doanh xuất hiện nhiều mô hình làm ăn có hiệu quả tập trung chủ yếu là các mô hình trang trại, gia trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, mô hình có quy mô lớn, mạnh dạn áp dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có trên 71.100 hộ đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, tăng 34% so với nhiệm kỳ trước, có hàng ngàn hộ thu nhập từ 500 triệu đến hàng tỷ đồng/năm. Từ phong trào thi đua, các cấp Hội đã trực tiếp giúp đỡ 4.186 hộ, phối hợp giúp đỡ 15.483 hộ thoát nghèo, tăng 7,6% so với nhiệm kỳ 2008-2013. Số tiền giúp đỡ 17.459 triệu đồng, số ngày công giúp đỡ 57.153 công. Những đóng góp của đội ngũ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã tạo bước đột phá về cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần nâng cao thu nhập, đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của hội viên, nông dân.  
2. Tổ chức dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân
Việc tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn và hỗ trợ cho nông dân được xem là đòn bẩy giúp cho hội viên nông dân trong phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Các cấp Hội đã tích cực tham mưu và chỉ đạo thực hiện Quyết định 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020”; Nghị quyết 03-NQ/HND của Ban chấp hành Trung ương Hội (khóa IV) và Chỉ thị 30-CT/TU ngày 17/7/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục xây dựng và phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp. Đến nay, tổng nguồn Quỹ Hỗ trợ nông dân toàn tỉnh có 37,973 tỷ đồng, tăng 14,636 tỷ đồng so với đầu nhiệm kỳ, với trên 3.200 lượt hộ vay, đầu tư trên 385 mô hình sản xuất, kinh doanh. Quỹ Hỗ trợ nông dân đã thực hiện tốt vai trò là công cụ, phương tiện của tổ chức Hội trong việc vận động, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ nông dân xây dựng các mô hình sản xuất kinh doanh. Hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội xây dựng 917 tổ tiết kiệm vay vốn cho gần 33.000 lượt hộ vay, số tiền dư nợ 1.155 tỷ đồng; phối hợp với các Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các ngân hàng thương mại xây dựng 256 tổ vay vốn cho hơn 13.000 lượt hộ vay, dư nợ đạt trên 1.200 tỷ đồng. Công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, có hiệu quả đã giúp hội viên nông dân có thêm nguồn lực đầu tư sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
Nhằm tranh thủ các nguồn lực để tư vấn, hỗ trợ hội viên nông dân, Hội phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức 5.328 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 329.000 lượt hội viên nông dân; xây dựng mới 442 mô hình về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, ngành nghề, dịch vụ với 2.052 hộ tham gia. Tham gia các hội chợ trong tỉnh và khu vực; mở gian hàng trưng bày sản phẩm nông nghiệp, xây dựng trang thông tin điện tử nhằm cung cấp thông tin các mặt hàng nông sản, các mô hình điển hình, các tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp giúp nông dân trong liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Phối hợp với doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp; tổ chức dạy nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động; tổ chức hoạt động tư vấn về pháp luật, kết nối thị trường, cách thức tổ chức sản xuất, kinh nghiệm làm ăn. Tổ chức cho hội viên nông dân tham quan học tập kinh nghiệm xây dựng mô hình sản xuất, kinh doanh. Chủ động tổ chức các cuộc đối thoại, tọa đàm, gặp gỡ để vận động chính sách, từ đó, cấp ủy, chính quyền, các ban ngành có những chính sách, biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho nông dân. Tổ chức thực hiện giới thiệu sản phẩm nông nghiệp trong tỉnh tham gia chương trình “Tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu” toàn quốc, đến nay, toàn tỉnh có 3 sản phẩm được bình chọn là sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu toàn quốc.
3. Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể
Các cấp Hội tích cực thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia phát triển kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, gia trại. Hướng dẫn thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã, mở rộng quy mô, các hình thức liên doanh, liên kết kinh tế giữa các tổ hợp tác, hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là với doanh nghiệp nhà nước. Các cấp Hội đã phối hợp tổ chức tập huấn, tuyên truyền cho hơn 318.380 lượt cán bộ, hội viên và các chủ nhiệm hợp tác xã, tổ trưởng tổ hợp tác về kinh tế tập thể.
Thông qua xây dựng các dự án vay vốn, các cấp Hội đã vận động xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã để hỗ trợ nhau trong tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nhiều hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm mở rộng quy mô, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh; tổ chức sản xuất theo hướng trang trại, gia trại, xây dựng tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, toàn tỉnh có 263 hợp tác xã, trong đó có 143 hợp tác xã nông lâm nghiệp và thủy sản; 798 tổ hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã, có 722 trang trại đạt tiêu chí, trong đó 25 hợp tác xã, 379 tổ hợp tác do Hội Nông dân vận động, hướng dẫn thành lập. Kinh tế hợp tác phát triển góp phần rất lớn vào quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn của tỉnh.
III. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG THAM GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1. Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới
Hàng năm, các cấp Hội chủ động phối hợp với chính quyền, các ban, ngành liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” gắn với thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia của Chính phủ, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh tuyên truyền nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư nông thôn, từ đó nâng cao nhận thức, ý thức tự giác, tích cực tham gia phong trào với nhiều hình thức, biện pháp phù hợp. Vận động hội viên, nông dân phát huy nội lực “hiến kế, hiến đất, hiến của, hiến công”, tích cực tham gia chương trình phát triển kinh tế-xã hội, hưởng ứng thực hiện phong trào. Trong nhiệm kỳ, các cấp Hội đã vận động nông dân đóng góp 116,519 tỷ đồng, tự nguyện hiến trên 724.395 m2 đất, trên 13.862 mét hàng rào, trên 235.580 cây, 64.505 ngày công, tổng trị giá ước tính hơn 53,431 tỷ đồng để sửa chữa, xây dựng, duy tu, nâng cấp đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng và các công trình phúc lợi ở nông thôn, góp phần hoàn thành kế hoạch xây dựng nông thôn mới của tỉnh, đến nay đã có 53 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên nông dân về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao chất lượng thực hiện các con đường tự quản mang tên Hội Nông dân; xây dựng và duy trì hiệu quả mô hình thu gom rác thải sinh hoạt, rác thải từ thuốc bảo vệ thực vật; thực hiện chuyển đổi cơ cấy cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai, cơ cấu mùa vụ tránh ảnh hưởng tiêu cực của thời tiết. Đẩy mạnh các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa, hàng năm có trên 120.000 hộ nông dân đạt danh hiệu Gia đình văn hóa.
2. Phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốc phòng, an ninh
Các cấp Hội đã tích cực phối hợp với chính quyền, Công an, Quân sự, Biên phòng, các ban, ngành liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức công dân cho cán bộ, hội viên, nông dân. Động viên hội viên, con em hội viên, nông dân tham gia lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên; tham gia xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Thực hiện tốt Luật Nghĩa vụ quân sự và chính sách hậu phương quân đội.
Phối hợp chặt chẽ với ngành Công an tổ chức tuyên truyền về chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, ma tuý, tệ nạn xã hội; tuyên truyền pháp luật  an toàn giao thông cho 324.399 lượt hội viên, nông dân. Vận động hội viên, nông dân tham gia xây dựng các tổ tự quản, tổ an ninh thôn xóm, xây dựng “Gia đình hội viên nông dân không vi phạm pháp luật và không mắc các tệ nạn xã hội” đến nay, đã xây dựng trên 800 mô hình ở các chi Hội Nông dân trong toàn tỉnh, với trên 93.154 hộ gia đình tham gia, qua đó đã góp phần giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật, đẩy lùi tệ nạn xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Tham gia hòa giải góp phần hạn chế các mâu thuẫn, tranh chấp đất đai, khiếu kiện tập thể, vượt cấp nhằm giữ vững đoàn kết thôn xóm, ổn định chính trị, an toàn xã hội ở nông thôn.
Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với Bộ đội Biên phòng trong việc vận động nông dân hai tuyến biên giới, vùng bãi ngang ven biển đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội. Xây dựng “Điểm sáng vùng biên”, bảo vệ an ninh biên giới, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Vận động ngư dân tiếp tục củng cố, thành lập tổ đội đoàn kết bám biển để sản xuất, liên kết giúp đỡ nhau trong đánh bắt hải sản, cứu hộ, cứu nạn gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Phối hợp với các ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nông dân ổn định tư tưởng, hưởng ứng tích cực chủ trương xây dựng các dự án lớn, trọng điểm của tỉnh, yên tâm lao động sản xuất, không tham gia tụ tập đông người, như dự án FLC Hải Ninh, dự án nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I, tham gia tuyên truyền, vận động nông dân ổn định tình hình sau sự cố môi trường biển năm 2016.
3. Thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hội viên nông dân
Hội Nông dân các cấp đã tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân hưởng ứng, tích cực tham gia Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", xây dựng làng, bản, thôn, xóm, khu dân cư, xã, phường, thị trấn văn hóa gắn với phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới. Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, hội thi, hội diễn thu hút đông đảo hội viên tham gia. Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống, xây dựng tình làng nghĩa xóm đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đến nay, toàn tỉnh có 129.249 hộ nông dân được công nhận đạt gia đình văn hoá.
Hội Nông dân các cấp đã phối hợp với các ban của Trung ương Hội, các ban, ngành, địa phương tổ chức tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội, tổ chức các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân gặp khó khăn, vận động hội viên tích cực tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện; triển khai các chương trình hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống các bệnh xã hội. Vận động hội viên nông dân tích cực đóng góp Quỹ Vì người nghèo, Quỹ Hạt thóc vàng, Quỹ Tấm lòng vàng, xây nhà tình nghĩa cho nông dân nghèo, kịp thời giúp đỡ, hỗ trợ hội viên nông dân lúc gặp khó khăn hoạn nạn. Trong 5 năm, các cấp Hội và hội viên nông dân đã đóng góp được trên 536 triệu đồng; tổ chức tập huấn, truyền thông nâng cao nhận thức cho hàng chục ngàn lượt cán bộ, hội viên nông dân về dân số kế hoạch hóa gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống các tệ nạn xã hội, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn lao động, an toàn giao thông. Hội ký kết chương trình phối hợp và triển khai kế hoạch thực hiện với UBND tỉnh về “tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2018 - 2020”.
IV. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN QUẢNG BÌNH VỮNG MẠNH
1. Tổ chức dạy nghề cho nông dân
Công tác dạy nghề cho hội viên nông dân được các cấp Hội quan tâm. Hội Nông dân tỉnh đã đầu tư nâng cấp, bổ sung trang thiết bị Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân Hội Nông dân tỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, dạy nghề cho nông dân. Tập trung xây dựng các mô hình trình diễn, các đề tài khoa học cho hội viên nông dân tham quan, học tập, làm theo. Hội chủ động phối hợp các ngành nhằm tạo nguồn lực, tổ chức các lớp dạy nghề cho nông dân. Trong nhiệm kỳ, các cấp Hội phối hợp với các trường, trung tâm dạy nghề tổ chức 350 lớp dạy nghề cho 10.563 lượt lao động; phối hợp với các trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàng chục ngàn lao động, góp phần giải quyết việc làm nâng cao thu nhập, ổn định đời sống người dân. Trong 5 năm, Trung tâm Dạy nghề và hỗ trợ nông dân tỉnh đã tổ chức 53 lớp dạy nghề và cấp chứng chỉ cho 1.671 lao động; giới thiệu 326 lao động làm việc trong và ngoài nước, tổ chức tư vấn việc làm cho 2.033 lượt người. Hoạt động dạy nghề được tổ chức theo nhu cầu hội viên nông dân, nội dung dạy nghề về kỹ thuật chăn nuôi thú y, trồng trọt, đào tạo thuyền trưởng, cạo mũ cao su, tiểu thủ công nghiệp, trong đó dành nhiều thời gian thực hành nên học viên có thể áp dụng nghề ngay sau khi học. Nhiều hội viên nông dân đã phát huy vốn kiến thức, đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, mang lại thu nhập cao.
2. Tham gia hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo
 Thực hiện Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg, Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ, các cấp Hội phối hợp với các sở, ban, ngành tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho 655.120 lượt cán bộ, hội viên nông dân. Phối hợp duy trì, nâng cao chất lượng 1.100 tổ hoà giải ở cơ sở có thành viên Hội Nông dân tham gia, chiếm 78% tổng số tổ hòa giải toàn tỉnh; vận động cán bộ, hội viên tích cực tham gia Hội thi Hòa giải viên cơ sở. Trong 5 năm, các cấp Hội đã tham gia hòa giải 22.250 vụ, trong đó, 2025 vụ thuộc thẩm quyền của Hội. Nhận và giải quyết 68 đơn thư thuộc thẩm quyền, phối hợp các ngành giải quyết 861 đơn thư. Nhờ đó, đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên nông dân về khiếu nại, tố cáo. Công tác khiếu nại, tố cáo đã giải quyết được các vướng mắc ở cơ sở, hạn chế khiếu kiện, khiếu nại vượt cấp, đảm bảo tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, góp phần xây dựng tình làng nghĩa xóm, sự đoàn kết gắn bó, tương trợ lẫn nhau của người dân nông thôn.
 
3. Tham gia giám sát, phản biện xã hội và góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Các cấp Hội đã tuyên truyền, vận động hội viên nông dân thực hiện Quyết định 217- QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận TQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Phối hợp tổ chức cho hội viên nông dân tham gia giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản biện các văn bản dự thảo quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan nông nghiệp, nông dân, nông thôn; dự thảo các văn bản luật, bộ luật; các dự thảo chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Căn cứ Hướng dẫn số 637-HD/HNDTW của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về “Thực hiện quy chế giám sát và phản biện xã hội trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam”, Hội ký kết chương trình phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Các cấp Hội đã tham gia cùng Ủy ban MTTQVN, các đoàn thể của tỉnh, ngành Lao động và Thương binh - Xã hội tổ chức giám sát về việc thực hiện các chính sách xã hội cho người có công; giám sát chương trình BHYT toàn dân, giám sát về chương trình xây dựng nông thôn mới; Chỉ đạo các cấp Hội thực hiện chức năng giám sát thường xuyên trên một số lĩnh vực nhất là việc thực hiện cơ chế chính sách đầu tư cho nông nghiệp, cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế tại các địa phương.
Các cấp Hội, hội viên nông dân tích cực tham gia vào việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân, trực tiếp phản ánh những khó khăn, kiến nghị với Đảng, chính quyền và tham gia xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đề xuất các chủ trương, giải pháp thực hiện phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, thông qua việc tham gia các cuộc họp dân, các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, thông qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân; các cuộc làm việc của cấp ủy, chính quyền với tổ chức Hội.
V. THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN VÀ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
Thực hiện Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị "Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền", năm năm qua, các cấp Hội đã tích cực vận động, hướng dẫn cho cán bộ, hội viên, nông dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia đóng góp ý kiến vào văn kiện đại hội Đảng các cấp, chương trình hoạt động của cấp ủy, chính quyền địa phương; góp ý xây dựng tổ chức Đảng, giám sát đảng viên nơi cư trú và xây dựng khối Đoàn kết toàn dân. Vận động cán bộ, hội viên, nông dân tham gia tiếp xúc cử tri, bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Đề xuất những vấn đề quan trọng, những chủ trương, giải pháp hợp lý để nông dân phát huy vai trò chủ thể, tích cực tham gia có hiệu quả công cuộc xây dựng nông thôn mới. Tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Hội Nông dân các cấp tích cực tham mưu tổ chức hội nghị đối thoại với chủ trang trại, tổ hợp tác để tháo gỡ những vướng mắc, các chế độ chính sách liên quan tạo điều kiện cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời thường xuyên nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của hội viên nông dân phản ánh cho Đảng, chính quyền giải quyết theo thẩm quyền, nhất là những vấn đề vướng mắc trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình phúc lợi, các khu kinh tế; vấn đề liên quan đến đền bù, hỗ trợ cho người dân về sự cố môi trường biển. Các cấp Hội Nông dân đã thực hiện tốt công tác giới thiệu cán bộ của Hội tham gia cấp ủy đảng, tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; có 301 cán bộ Hội được bầu vào cấp ủy, có 337 cán bộ được bầu vào Hội đồng nhân dân các cấp; có 57 cán bộ Hội các cấp được luân chuyển, phân công nhận nhiệm vụ ở các cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp. Đã tích cực giới thiệu hội viên ưu tú sang cấp ủy bồi dưỡng xem xét kết nạp Đảng, trong 5 năm đã có 1.631 hội viên được kết nạp vào Đảng.
VI. MỞ RỘNG QUAN HỆ HỮU NGHỊ, HỢP TÁC QUỐC TẾ  
 Các cấp Hội tổ chức tuyên truyền chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta với các nước bạn trong tiến trình hội nhập, phát triển; Tuyên truyền về mối quan hệ hữu nghị láng giềng và khu vực giữa Việt Nam - ASEAN; Việt Nam - Lào - Campuchia, Việt Nam - Trung Quốc. Hội Nông dân các cấp trong tỉnh tổ chức tuyên truyền 32 buổi tuyên truyền, phổ biến về công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế cho trên 4.480 người là cán bộ hội chuyên trách cấp huyện, chủ tịch, phó chủ tịch cơ sở, chi, tổ Hội và hội viên nồng cốt, Hội đã kịp thời đưa các nội dung thông tin về hội nhập quốc tế của Việt Nam, của tỉnh, của Hội về nông nghiệp, nông dân trên Trang thông tin điện tử nông dân Quảng Bình và các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, hội viên nông dân; Phối hợp với Bộ đội Biên phòng tuyên truyền vận động ngư dân đánh bắt trên biển thực hiện đúng pháp luật Quốc tế và Luật Việt Nam. Hội Nông dân các cấp cử các đồng chí có trình độ, kinh nghiệm tham gia các đoàn công tác của Trung ương Hội, của tỉnh, các địa phương đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài về sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Trong nhiệm kỳ, có 02 cán bộ Hội Nông dân tỉnh tham gia công tác học tập kinh nghiệm, kỹ năng quản lý và tổ chức hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại Cộng hòa Séc, Hàn Quốc, Đài Loan.
C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Những kết quả nổi bật, nguyên nhân
Năm năm qua, trong bối cảnh tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các cấp Hội, hội viên nông dân trong tỉnh đã đoàn kết, tích cực, chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, triển khai hoạt động Hội một cách toàn diện với quyết tâm cao, đã hoàn thành tốt các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2013 - 2018 đề ra. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng; công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên được chú trọng; phương thức hoạt động Hội có nhiều đổi mới. Hội đã phát huy được vai trò là trung tâm, nồng cốt trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam. 3 phong trào thi đua, 3 nhiệm vụ trọng tâm của Hội có sự chuyển biến tích cực. Các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân được tổ chức thực hiện có hiệu quả. Quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân được đảm bảo. Cán bộ, hội viên, nông dân gắn bó, quyết tâm xây dựng Hội vững mạnh; tích cực tham gia giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Vị thế, uy tín của tổ chức Hội ngày càng được khẳng định trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng - an ninh, thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh nhà phát triển bền vững.
Đạt được những thành tích hết sức quan trọng trên đây là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, có hiệu quả của cấp uỷ Đảng, sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Hội; sự phối hợp, tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể; sự nỗ lực của tập thể cán bộ, hội viên nông dân trong toàn tỉnh. Các cấp Hội chủ động bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cụ thể hóa vào chương trình, kế hoạch của Hội để triển khai thực hiện; cán bộ, hội viên đoàn kết, đồng thuận, phát huy thế mạnh, tranh thủ mọi nguồn lực, phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra.
2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng của một số cơ sở Hội chưa thực sự đổi mới, việc nắm tâm tư, nguyện vọng, những kiến nghị, đề xuất chính đáng của hội viên, nông dân ở một số nơi thiếu kịp thời. Công tác phát triển hội viên ở vùng đồng bào có đạo, vùng dân tộc thiểu số, bãi ngang ven biển còn khó khăn; việc nâng cao chất lượng hội viên một số nơi chưa được chú trọng. Hoạt động của Hội ở cơ sở, chi, tổ Hội một số nơi hoạt động còn cầm chừng, chưa có nhiều đổi mới trong nội dung, hình thức sinh hoạt để thu hút hội viên nông dân. Công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi chưa được coi trọng, thiếu thường xuyên. Một số cơ sở Hội chưa chủ động việc phát hiện điển hình, mô hình để động viên, khen thưởng và nhân rộng. Phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực và cán bộ Hội các cấp ở một số địa phương chưa thực sự chủ động, sáng tạo, nhất là trong tham mưu cơ chế, chính sách và triển khai nhiệm vụ chính trị của Hội.
Phong trào sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững ở một số nơi chưa được phát động và triển khai mạnh mẽ. Việc tham gia tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thực hiện một số chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về phát triển nông nghiệp chưa mạnh. Vai trò của tổ chức Hội, sự tham gia của hội viên nông dân trong phong trào nông dân xây dựng nông thôn mới còn thiếu tích cực, chủ động. Hoạt động tư vấn, dịch vụ, hỗ trợ nông dân, công tác dạy nghề chuyển đổi nghề cho lao động nông thôn một số nơi còn hạn chế. Công tác giới thiệu, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nguồn vốn, dịch vụ kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu cho hội viên, nông dân. Đời sống nông dân một số nơi còn khó khăn; vẫn còn một bộ phận hội viên nông dân trông chờ, ỷ lại và thiếu quyết tâm vươn lên thoát nghèo. Hoạt động kinh tế tập thể chuyển biến còn chậm, tính hợp tác, liên kết giữa các hộ nông dân, các tổ hợp tác, hợp tác xã còn thiếu chặt chẽ. Nông dân một số nơi vẫn chưa tuân thủ quy trình sản xuất nông sản sạch, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Công tác tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền, các ban, ngành đoàn thể trong việc thực hiện vai trò, chức năng giám sát, phản biện xã hội của tổ chức Hội còn thiếu chủ động, hiệu quả còn hạn chế trên một số lĩnh vực.
 
* Nguyên nhân hạn chế, yếu kém
- Nguyên nhân khách quan
Thời tiết khắc nghiệt, bão lũ thường xuyên diễn ra, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường; giá cả đầu vào trong sản xuất nông nghiệp còn cao trong khi đó giá nông sản một số mặt hàng giảm sâu, kéo dài đã tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống của nông dân. Sự cố môi trường biển ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, thu nhập, tư tưởng của hội viên nông dân, nhất là những vùng bị ảnh hưởng trực tiếp.  Đời sống của một bộ phận hội viên, nông dân còn khó khăn, tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp đã ảnh hưởng đến việc tham gia sinh hoạt và các hoạt động của Hội. Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn diễn ra chưa mạnh. Hoạt động thu hút các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa nhiều. Sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, sự phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể đối với Hội Nông dân có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức. Mặt khác, điều kiện, phương tiện cho hoạt động Hội còn thiếu đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động Hội.
- Nguyên nhân chủ quan
Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, khả năng cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết của đội ngũ Ban Chấp hành, cán bộ Hội, trước hết là cán bộ chủ chốt ở một số địa phương, đơn vị nhất là cấp cơ sở chậm đổi mới, thiếu linh hoạt, chủ động; phong cách, lề lối làm việc mang nặng hành chính, sự vụ. Việc triển khai các phong trào thi đua một số nơi còn chậm, chưa thường xuyên, sức lan tỏa chưa lớn. Một bộ phận cán bộ, hội viên nông dân chưa tích cực nâng cao tính tự học, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chưa tích cực tham gia các phong trào thi đua, còn thiếu ý chí, quyết tâm vươn lên trong sản xuất và đời sống. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội ở một số nơi chưa mạnh, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới và nhu cầu của hội viên, nông dân.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ thực tiễn hoạt động công tác Hội, phong trào nông dân qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân tỉnh lần thứ IX, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây.
Thứ nhất, quán triệt sâu sắc và nắm vững chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Hội. Sáng tạo, chủ động trong xây dựng các chương trình hành động để đưa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của Hội thực sự đi vào đời sống của hội viên, nông dân, đây là điều kiện, nhân tố quyết định cho sự thành công của hoạt động Hội và phong trào nông dân.
Thứ hai, tích cực tham mưu, tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp chính quyền cụ thể hóa vào nội dung chương trình công tác, tăng cường phối hợp với các ban, ngành, các tổ chức trong hệ thống chính trị, tổ chức, doanh nghiệp để tạo cơ chế, chính sách và nguồn lực cho hội viên, nông dân về nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm, cách thức tổ chức sản xuất, công nghệ mới, thông tin thị trường, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, từ đó vận động, hỗ trợ hội viên phát triển sản xuất.
Thứ ba, nâng cao vai trò, trách nhiệm của tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội các cấp, tập trung xây dựng Hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp đảm bảo số lượng và chất lượng; có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, am hiểu tình hình nông dân, nông nghiệp, nông thôn; phải có tâm huyết, nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Đa dạng hoá các hình thức vận động, tập hợp nông dân vào Hội; lãnh đạo, chỉ đạo phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung hướng về cơ sở.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bám sát cơ sở để vận động, hướng dẫn, tổ chức hoạt động Hội. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những đơn vị, cá nhân thiếu trách nhiệm, thiếu quyết tâm và chưa có nhiều sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ; đồng thời, có biện pháp bồi dưỡng, xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, nhân tố mới, những cách làm hay, việc làm sáng tạo.     
Thứ năm, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào nông dân thi đua yêu nước của nông dân; phát huy dân chủ, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ, năng lực sáng tạo, tinh thần lao động, ý thức vươn lên của hội viên nông dân trong phát triển kinh tế và tham gia xây dựng Hội, xây dựng Đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh.
 
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN,
 NHIỆM KỲ 2018-2023
 
A. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU
I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG
1. Dự báo tình hình
Trong những năm tới, hoạt động công tác Hội và phong trào nông dân có nhiều thời cơ, thuận lợi lớn. Sự nghiệp đổi mới tiếp tục ­đạt được những thành tựu to lớn, nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục tăng trưởng trên các lĩnh vực; môi trường đầu tư được cải thiện, thu hút các nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh của tỉnh. Vấn đề phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới đang được các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện và đông đảo nông dân hưởng ứng tham gia. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, từng bước chuyển từ nông nghiệp số lượng sang chất lượng, giá trị cao. Quá trình tích tụ ruộng đất sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, cơ giới hóa nông nghiệp tăng nhanh, sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ gắn với chế biến và thị trường ngày càng phát triển; tính hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được tăng cường là xu thế phát triển trong thời gian tới. Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp ngày càng quan tâm, coi trọng vai trò nồng cốt của tổ chức Hội cũng như vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Tuy nhiên, tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức do biến đổi khí hậu ngày càng rõ; thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường diễn biến khó lường. Tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp, cư dân nông dân sẽ ngày càng giảm về số lượng, nhưng chất lượng ngày càng tăng lên, lao động nông thôn sẽ chuyển dần sang hoạt động phi nông nghiệp. Tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong nền kinh tế sẽ giảm. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội một số địa bàn còn ẩn chứa nhiều yếu tố phức tạp.  
Những thời cơ, thuận lợi, khó khăn thách thức đan xen nhau, đặt ra nhiều vấn đề mới, đòi hỏi tổ chức Hội các cấp và cán bộ, hội viên nông dân toàn tỉnh cần phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, nỗ lực phấn đấu với quyết tâm cao hơn, vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ, đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn đặt ra. 
2. Phương hướng chung
Phát huy tinh thần “Dân chủ - Đoàn kết - Đổi mới - Phát triển”, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp, kết hợp chặt chẽ giữa tập hợp rộng rãi và nâng cao chất lượng hội viên, xây dựng tổ chức Hội các cấp vững mạnh; Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nông dân gắn với thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và đột phá của Hội; Thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, quyết định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Trực tiếp và phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn; Tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh; Nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức Hội, vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, góp phần đưa tỉnh Quảng Bình phát triển nhanh và bền vững. 
II. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
1. Tăng cường xây dựng Hội Nông dân các cấp trong tỉnh vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; phát huy vai trò trung tâm, nòng cốt trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động theo hướng kết hợp chặt chẽ công tác tập hợp, đoàn kết, tuyên truyền vận động hội viên nông dân thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
2. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong hội viên nông dân gắn với thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và đột phá của Hội, đó là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân; Tổ chức các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống; Xây dựng các mô hình phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp để tích tụ ruộng đất theo mô hình liên kết, hợp tác sản xuất, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm theo Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư, Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
3. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ của cán bộ Hội, hội viên, nông dân, có năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất nông nghiệp hiện đại; tham gia thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn. Tích cực tham gia giám sát và phản biện xã hội các chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; từng bước thực hiện vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Vận động hội viên nông dân phát huy nội lực, tranh thủ sự hỗ trợ của các cấp, các ngành để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu do Đại hội đề ra, góp phần xây dựng tỉnh Quảng Bình phát triển nhanh và bền vững.
III. CÁC CHỈ TIÊU CỤ THỂ
1. 100% cán bộ, hội viên nông dân được tuyên truyền, phổ biến, học tập các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nghị quyết của Hội.
2. Kết nạp từ 20.000 - 25.000 hội viên mới. Phấn đấu hàng năm có trên 95% cơ sở, chi, tổ Hội đạt khá và vững mạnh.
3. 100% cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đạt chuẩn theo quy định. 100% cán bộ cơ sở và chi, tổ Hội được tập huấn nghiệp vụ công tác Hội.
4. 100 % chi Hội có quỹ Hội; bình quân chân quỹ đạt 70.000 đ/hội viên.
5. Quỹ Hỗ trợ nông dân tăng bình quân 15%/năm trở lên.
6. Hàng năm có trên 80% hộ hội viên đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp; trong đó có 60% số hộ đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp. Phấn đấu trực tiếp giúp đỡ trên 5.000 hộ nông dân thoát nghèo/nhiệm kỳ.
7. Vận động 100% hộ hội viên nông dân sản xuất, kinh doanh nông sản đăng ký, cam kết đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
8. 100% Hội Nông dân cấp huyện, cơ sở tổ chức được hoạt động tư vấn, dịch vụ hỗ trợ dịch vụ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
9. Các cấp Hội phấn đấu xây dựng được 50 tổ hợp tác, hợp tác xã phát triển sản xuất theo hướng chuỗi giá trị.
10. Có 100% Hội Nông dân các cấp làm tốt công tác vận động hội viên, nông dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và xây dựng ít nhất 01 mô hình về bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
11. Phấn đấu 100% hội viên tham gia bảo hiểm y tế và 100% các cấp Hội làm tốt công tác vận động nông dân thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII “Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.
12. 100% Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện, 50% Hội cấp xã tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân đi học tập kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở các địa phương trong nước và ngoài nước. 
 13. Trực tiếp và phối hợp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 500 người/năm. Tỷ lệ có việc làm, sử dụng nghề sau đào tạo đạt 70%. Phối hợp tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 50.000 lượt người/năm.
14. 100% cán bộ Hội và 80% hội viên, nông dân trở lên phải tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trực tiếp giải quyết và phối hợp giải quyết 100% đơn, thư khiếu nại, tố cáo của nông dân gửi tới các cấp Hội theo thẩm quyền. Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho 100 % hội viên nông dân khi có yêu cầu trợ giúp.
15. Hàng năm có trên 90% số hộ nông dân đăng ký phấn đấu, 85% trở lên số hộ đạt danh hiệu Gia đình Văn hoá.
 
 
B. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
I. CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC HỘI
1. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng
Bám sát nội dung chương trình toàn khóa của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho hội viên nông dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp nông dân, nông thôn. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng vùng miền, từng đối tượng hội viên nông dân. Tuyên truyền thông qua hội nghị chuyên đề, hội thảo, tập huấn, sinh hoạt chi, tổ Hội, sinh hoạt câu lạc bộ, hoạt động truyền thống. Chú trọng tuyên truyền miệng và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng biên giới, bãi ngang, ven biển, đồng bào có đạo.
Công tác tuyên truyền, giáo dục bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh, địa phương, tăng cường kiểm tra, chỉ đạo công tác tuyên truyền đến tận cơ sở, gắn tuyên truyền với các phong trào thi đua yêu nước và hoạt động của Hội. Kịp thời tuyên truyền các điển hình, nhân tố mới trong các phong trào nông dân, cổ vũ, tôn vinh những điển hình tiên tiến, những sáng kiến, kinh nghiệm hay trong các cấp Hội, cán bộ, hội viên, nông dân. Tăng cường đối thoại trực tiếp với nông dân, thường xuyên nắm chắc tình hình, lắng nghe, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những đề xuất, kiến nghị chính đáng của hội viên nông dân để phản ánh, đề xuất, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền và Hội cấp trên.
2. Tập trung xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh toàn diện
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06-NQ/HNDTW ngày 19/7/2010 về tiếp tục xây dựng tổ chức Hội các cấp vững mạnh, Đề án số 24-ĐA/HNDTW về xây dựng chi hội, tổ hội nghề nghiệp gắn với thực hiện Đề án “Xây dựng chi hội là đơn vị hành động”. Đẩy mạnh thực hiện Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Quảng Bình trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Quảng Bình giai đoạn 2011-2020”.  Đưa các nội dung sinh hoạt và hoạt động Hội ở cơ sở đi vào nề nếp theo quy định của Điều lệ Hội với chất lượng ngày càng cao. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các cấp Hội theo 6 nội dung Kết luận số 62-KL/TW ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”.    
Thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ chủ chốt từ khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến việc bố trí, đề bạt, sử dụng, đảm bảo cho đội ngũ cán bộ Hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nông dân; có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tham mưu tích cực cho Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, phối hợp chặt chẽ với các Huyện, Thành, Thị uỷ để kiện toàn bộ máy, bố trí sử dụng cán bộ đúng người, đúng việc và thực hiện tốt chính sách cán bộ, nhất là sau đại hội nhiệm kỳ 2018-2023.
Đa dạng hoá các hình thức vận động, tập hợp hội viên và nâng cao chất lượng hội viên. Chú trọng phát triển hội viên trẻ, hội viên là người dân tộc, tôn giáo, người lao động trong các tổ chức kinh tế - xã hội khác, hộ sản xuất, kinh doanh giỏi. Nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt của chi, tổ Hội, công tác quản lý, phân loại chất lượng hội viên hàng năm. Chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cho cán bộ, hội viên nông dân tự nguyện, nhiệt tình, có trách nhiệm trong sinh hoạt, hăng hái, tích cực tham gia các hoạt động của Hội, phong trào nông dân, các cuộc vận động, phong trào thi đua ở địa phương. Xây dựng và phát triển quỹ Hội đáp ứng yêu cầu hoạt động công tác Hội và phong trào nông dân, nhất là ở cơ sở, chi, tổ Hội. 
3. Đổi mưới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát
Nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Kiểm tra các cấp Hội. Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam. Tích cực đổi mới về nội dung kiểm tra, giám sát, trong đó, chú trọng kiểm tra, giám sát theo chuyên đề. Nội dung kiểm tra, giám sát chủ yếu tập trung vào thi hành Điều lệ Hội, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết, các chương trình, kế hoạch của Hội, quản lý sử dụng các nguồn vốn, các nguồn quỹ, các vấn đề có liên quan đến đội ngũ cán bộ Hội.
4. Thường xuyên chú trọng công tác thi đua, khen thưởng
Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Thi đua - Khen thưởng đảm bảo đi vào nề nếp, đúng quy định của pháp luật. Mỗi cấp Hội phải có quy chế, hướng dẫn công tác Thi đua - Khen thưởng phù hợp với tình hình, điều kiện địa phương, đơn vị. Hàng năm, ngoài việc phát động thường xuyên các phong trào, cần tổ chức các đợt thi đua theo chuyên đề thích ứng với mỗi thời điểm, sự kiện chính trị trọng đại của quê hương, đất nước và của Hội. Tổ chức tốt việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân, nhân rộng những gương người tốt, việc tốt, đảm bảo thi đua thực sự là động lực quan trọng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động Hội và phong trào nông dân trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới.
5. Xây dựng người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
 Khơi dậy lòng nhiệt tình, tính năng động, chăm chỉ, cần cù, sáng tạo của nông dân; không ngừng học tập, cập nhật nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kiến thức quản lý, thông tin thị trường; nông dân phải ý thức được vai trò, trách nhiệm đối với cộng đồng, chủ động, sáng tạo hơn trong sản xuất, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp an toàn, hiệu quả; cùng với phát triển kinh tế, làm giàu, người nông dân mới cần phải giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp, tình làng, nghĩa xóm, có lòng tự tôn dân tộc, yêu quê hương, đất nước, xây dựng gia đình hạnh phúc; tích cực tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
II. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1. Tiếp tục nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả phong trào Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững
Thường xuyên phát động và nâng cao chất lượng phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững. Phấn đấu để phong trào có bước phát triển mới về chất, làm xuất hiện ngày càng nhiều hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi có quy mô lớn gắn với xây dựng các mô hình “Dân vận khéo” trong sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Tập trung tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia tái cơ cấu ngành nông nghiệp, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tiếp tục thực hiện dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất xây dựng cánh đồng lớn, sản xuất tập trung. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện từng địa phương, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh các cây trồng có năng suất, chất lượng, có giá trị kinh tế cao.
Vận động hội viên, nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản để nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng, mẫu mã, thương hiệu, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản trên thị trường. Vận động hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ở từng cấp, từng địa bàn giúp đỡ các hộ khó khăn về giống, kỹ thuật. Đồng thời khuyến khích, động viên các hộ nghèo quyết tâm thoát nghèo, vươn lên trở thành hộ khá, giàu.
Chú trọng xây dựng, nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, vận động và hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân tiếp cận các chủ trương, chính sách, cơ chế, vốn đầu tư, khai thác tiềm năng, thế mạnh, các nguồn lực để phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống; khuyến khích sản xuất theo mô hình liên kết, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, chuỗi giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Vận động hội viên, nông dân mở rộng, phát triển ngành nghề, phát triển dịch vụ, sản xuất hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu và thị trường tiêu thụ, tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu lao động, ngành nghề nông thôn.
 2. Tăng cường tổ chức các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ, tư vấn nông dân phát triển sản xuất
Đây được xác định là nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá để tập trung chỉ đạo triển khai trong cả nhiệm kỳ. Các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chương trình phối hợp với các ngân hàng thương mại, huy động nguồn vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, xây dựng, phát triển Quỹ hỗ trợ nông dân, tranh thủ nguồn lực từ các dự án, các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ để hỗ trợ vốn cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Phối hợp với các doanh nghiệp, các cấp, các ngành cung ứng máy móc, thiết bị, phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, tổ chức dạy nghề, tư vấn việc làm và xuất khẩu lao động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh. Phối hợp với các sở, ban, ngành, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật, quy trình công nghệ mới, xây dựng các mô hình trình diễn, tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm, nhân rộng phát triển mô hình có hiệu quả. Tăng cường liên kết, phối hợp để xây dựng mô hình cánh đồng lớn và nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích. Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, hỗ trợ nông dân về pháp lý, kiến thức quản lý, kiến thức tổ chức thực hiện dự án phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng thương hiệu sản phẩm. Nâng cao năng lực truyền thông và chất lượng hoạt động hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh của các cấp Hội. Mở rộng dịch vụ cung cấp kịp thời các thông tin về chủ trương, chính sách cho hội viên, nông dân. Thực hiện tốt thông tin thị trường, giới thiệu, quảng bá, tiêu thụ nông sản, hàng hoá cho nông dân.
3. Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp
Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt Kết luận số 56-KL/TW ngày 21/2/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Luật Hợp tác xã; Nghị quyết số 04-NQ/HNDTW của Ban Chấp hành Trung ương Hội “Về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011-2020” cho hội viên nông dân. Phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức tập huấn về quy trình thành lập, cách thức vận hành và những lợi ích khi tham gia kinh tế tập thể; vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể tăng cường liên kết trong sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Phát huy vai trò Hội Nông dân là trung tâm để kết nối giữa nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã với doanh nghiệp, liên kết sản xuất theo chuỗi và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên. Gắn mô hình sản xuất đồng thời với xây dựng chi, tổ Hội nghề nghiệp. Phát huy tính chủ động trong tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền các cấp có cơ chế, chính sách để hỗ trợ, khuyến khích các hình thức liên kết, hợp tác trong phát triển sản xuất.
III. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1. Tích cực vận động nông dân thi đua tham gia xây dựng nông thôn mới
Tăng cường công tác tuyên truyền vận động hội viên, nông dân nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới; tuyên truyền chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 490/QĐ-TTg, ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020 (OCOP), Quyết định 691/QĐ-TTg ngày 5/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020; Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 15/2/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc đẩy mạnh thực hiện hiệu quả, bền vững chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020. Các cấp Hội bám sát quy định từng tiêu chí, xác định, lựa chọn những tiêu chí phù hợp để đảm nhận tập trung chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả; tập trung thực hiện các tiêu chí về tăng thu nhập, giảm hộ nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, bảo vệ môi trường; phấn đấu tham gia xây dựng và nhân rộng các khu dân cư kiểu mẫu, đoạn đường kiểu mẫu, vườn mẫu để hình thành các xã nông thôn mới kiểu mẫu.
Vận động cán bộ, hội viên nông dân phát huy vai trò chủ thể, nòng cốt trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Tích cực thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, tiếp tục xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới; chủ động hiến kế, hiến công, hiến của để xây dựng, duy tu, bảo dưỡng, nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi ở địa phương. Gương mẫu, chấp hành công tác giải phóng mặt bằng, chỉnh trang khu dân cư. Phối hợp với chính quyền địa phương tích cực tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch xây dựng Nông thôn mới tổ chức giám sát việc thực hiện xây dựng nông thôn mới ở địa phương, cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả và đúng quy hoạch. Kịp thời phản ánh với cấp uỷ, chính quyền địa phương những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện. Đẩy mạnh các phong trào thi đua gắn với việc thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới. Nâng cao chất lượng thực hiện các con đường tự quản mang tên Hội Nông dân, các mô hình thu gom rác thải sinh hoạt, thu gom rác thải từ bảo vệ thực vật, nhân rộng các mô hình có cách làm hay hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường nông thôn. Tích cực tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
2. Tăng cường phối hợp thực hiện phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh
Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa Hội Nông dân các cấp với cơ quan quân sự, công an, bộ đội biên phòng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Động viên hội viên, nông dân, con em hội viên nông dân thực hiện tốt Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Dân quân tự vệ. Vận động hội viên, nông dân  tích cực tham gia xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tham gia thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng chống ma tuý, đảm bảo an toàn giao thông. Xây dựng các tổ nông dân tự quản về an ninh trật tự, xây dựng “Gia đình nông dân không vi phạm pháp luật, không mắc các tệ nạn xã hội”; xây dựng “Điểm sáng biên giới”; xây dựng và phát huy vai trò của các tổ, đội đoàn kết trên biển góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Tích cực chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc gia đình liệt sỹ, thương binh, người có công với cách mạng, tổ chức các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa. Góp công, góp của xây dựng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, giúp đỡ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh khó khăn, những người lầm lỡ trở về địa phương hoà nhập cộng đồng. Phát huy vai trò, chức năng của các cấp Hội trong công tác phối hợp tư vấn, hoà giải, giải quyết các vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ nông dân, hạn chế đến mức thấp nhất các điểm nóng xảy ra, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự - an toàn xã hội ở địa bàn dân cư.
3. Thực hiện có hiện quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hội viên nông dân
Tích cực phối hợp, vận động hội viên nông dân thi đua xây dựng gia đình văn hoá, tham gia xây dựng làng, bản, tiểu khu văn hoá; hưởng ứng và tích cực thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; tích cực tham gia xây dựng các thiết chế văn hóa của địa phương, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, cảnh quan môi trường đô thị, bộ mặt nông thôn. Tham gia tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước; tiếp thu tinh hoa văn hóa mới, giữ gìn, phát huy văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho hội viên nông dân về dân số-kế hoạch hoá gia đình, “bình đẳng giới”, phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống các tệ nạn xã hội, an toàn lao động, an toàn giao thông…Vận động hội viên, nông dân tích cực thực hiện có hiệu quả chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; ủng hộ quỹ "Vì người nghèo", xây dựng nhà ở cho hộ nông dân nghèo. Tiếp tục phối hợp với ngành Bảo hiểm xã hội, các ban, ngành liên quan vận động hội viên, nông dân tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội.
IV. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI TRONG XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM
Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp Hội trong việc thực hiện chiến lược hành động xây dựng “Người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”. Phối hợp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý kinh tế cho đội ngũ cán bộ Hội; tổ chức học tập nâng cao kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại; giáo dục ý thức vai trò, trách nhiệm đối với cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường, chủ động, sáng tạo hơn trong sản xuất, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp an toàn, hiệu quả. Tập trung nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; mở rộng liên kết để đa dạng hoá các hình thức dạy nghề, chuyển nghề cho hội viên nông dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn của tỉnh. Chủ động phối hợp với các đơn vị làm công tác tư vấn, môi giới lao động để giới thiệu việc làm cho nông dân. Phấn đấu hàng năm dạy nghề cho 500 lao động, 70% lao động học nghề tìm được việc làm.
Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho nông dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo. Làm tốt công tác hoà giải ở cơ sở, tham gia tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của nông dân theo Quyết định 81/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Làm tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội của tổ chức Hội theo quy định tại Quyết định 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị. Tiếp tục xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nông dân trong việc tham gia giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tập trung giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách, các chương trình dự án phát triển kinh tế-xã hội có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân. Tham gia góp ý xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, xây dựng nông thôn mới.
V. THAM GIA XÂY DỰNG ĐẢNG, CHÍNH QUYỀN VÀ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN
Tiếp tục chỉ đạo thực hiện Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Các cấp Hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của địa phương. Thường xuyên bồi dưỡng, giới thiệu cán bộ, hội viên ưu tú để cấp uỷ Đảng xem xét kết nạp vào Đảng; lựa chọn những cán bộ, hội viên ưu tú giới thiệu ứng cử vào cấp uỷ Đảng và thành viên của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tham gia hiệp thương, giới thiệu nhân sự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và vận động hội viên, nông dân tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Tích cực tham gia cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 (khoá XI, khóa XII) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Vận động cán bộ, hội viên nông dân tích cực phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
VI. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ 
Tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức, kiến thức của cán bộ, hội viên, nông dân, nhất là vùng biên giới, hải đảo về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, cơ hội, thách thức của hội nhập quốc tế; đồng thời, giới thiệu, quảng bá về văn hóa, quê hương, con người, nông sản hàng hóa đến bạn bè trên thế giới. Tổ chức cho cán bộ, nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đi tham quan, nghiên cứu, học tập trao đổi kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp về tiêu thụ nông sản ở nước ngoài. Tiếp tục phối hợp với Bộ đội Biên phòng tỉnh tuyên truyền ngư dân đánh bắt thủy hải sản thực hiện nghiêm luật pháp Việt Nam, Luật Quốc tế, tôn trọng chủ quyền mỗi quốc gia có biển phù hợp thông lệ quốc tế.
Với tinh thần “Dân chủ, đoàn kết, đổi mới, phát triển”, phát huy truyền thống cách mạng của quê hương Quảng Bình “Hai giỏi” và 88 năm xây dựng, trưởng thành của Hội, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, sự quan tâm, tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể, tin tưởng cán bộ, hội viên nông dân toàn tỉnh sẽ đoàn kết, nổ lực vượt qua khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, quyết tâm thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ  công tác Hội, phong trào nông dân nhiệm kỳ 2018-2023 mà Nghị quyết Đại hội đã đề ra, góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI./.
 
BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
 
*****
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phụ lục:  KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƠ BẢN
(Nhiệm kỳ 2013 - 2018)
 
TT Chỉ tiêu thi đua Đơn vị tính Kế hoạch cả nhiệm kỳ
 
Thực hiện
trong nhiệm kỳ
Tỷ lệ
(%)
1 2 3 4 5
1 Phát triển hội viên mới Hội viên 25.000  30.548 122,2%
  Phát thẻ cho hội viên % 95 95 100%
2 Đào tạo, bồi d­ưỡng cán bộ Lượt Người 5000 5.886 117,7%
     - Tỉnh Hội trực tiếp đào tạo, cấp c/chỉ Lượt Người 2.000 2.736 136,8%
     - Phối hợp đào tạo, tập huấn Lượt Người 3.000  3.150 105%
3 Xây dựng cơ sở, chi tổ Hội vững mạnh        
     - Cơ sở Vững mạnh % 90% 95% 106%
     - Chi, tổ Hội Vững mạnh % 95% 85% 89,5%
4 Phát triển Quỹ Hội        
     - Tỷ lệ Chi Hội có Quỹ Hội % 100% 100% 100%
     - Số tiền xây dựng được Tr.đồng 7.000 7.500 107,1%
5 Luỹ kế Quỹ HTND đến cuối nhiệm kỳ Tr.đồng 27.600 37.973 140,6%
  - Cấp tỉnh Tr.đồng 4.000 9.783 244,6%
  - Cấp huyện Tr.đồng 4.000 7.545 188,6%
  - Cấp xã Tr.đồng 19.600 21.878 111,6%
  Quỹ Hỗ trợ nông dân tăng Tr.đồng  4.600 14.636 318,2%
6 Tập huấn khoa học kỹ thuật Lượt người 250.000 329.000 131,6%
7 Dạy nghề cho nông dân Lượt người 10.000 11.033 110,3%
  - Phối hợp thực hiện Lượt người 8.800 10.563 120,1%
  - Trực tiếp thực hiện Lượt người 1.200 1.470 122,5%
8 Xoá đói giảm nghèo cho nông dân Hộ 17.500 19.669 112,4%
  - Phối hợp thực hiện Hộ 15.000 15.483 103,2%
  - Trực tiếp thực hiện Hộ 6.500 4.186 64,4%
9 Duy trì nguồn vốn cho nông dân vay phát triển sản xuất, kinh doanh Tỷ đồng  1.200        2.300 191,7%
10 Hộ nông dân SXKD giỏi các cấp Hộ 45.480 71.100 156,3%
11 Tuyên truyền pháp luật, trợ giúp pháp lý        
   - Tuyên truyền pháp luật Lượt người   1.070.088 1.456.440 136,1%
   - Trợ giúp pháp lý Lượt người  9.514 10.409 109,4%
12 Số hộ nông dân đạt Gia đình văn hóa Hộ 115.000 126.380 109,9%
 
      HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM             CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
             BCH HND TỈNH QUẢNG BÌNH                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                                     *
 
DANH SÁCH
CHỦ TỊCH, PHÓ CHỦ TỊCH HỘI NÔNG DÂN TỈNH
KHÓA X, NHIỆM KỲ 2018-2023
 
 
 
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Chức vụ,
đơn vị công tác hiện nay
I CHỦ TỊCH    
1 Lê Công Toán 15/02/1971 Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
II PHÓ CHỦ TỊCH    
1 Hoàng Thị Hà 20/10/1966 Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
2 Nguyễn Nam Long 13/11/1966 Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
 
DANH SÁCH BAN THƯỜNG VỤ HỘI NÔNG DÂN TỈNH
KHÓA X, NHIỆM KỲ 2018-2023
 
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Chức vụ,
đơn vị công tác hiện nay
1 Lê Công Toán 15/02/1971 Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
2 Hoàng Thị Hà 20/10/1966 Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
3 Nguyễn Nam Long 13/11/1966 Phó chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
4 Phạm Thị Thanh Phúc 27/12/1968 Trưởng Ban Kinh tế - xã hội Hội Nông dân tỉnh
5 Trần Thị Liên 18/11/1970 Trưởng Ban Tổ chức - Kiểm tra Hội Nông dân tỉnh
6 Phùng Xuân Tiến 16/02/1978 Trưởng Ban Điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh
7 Nguyễn Tiến Thành 06/3/1980 Chánh Văn phòng Hội Nông dân tỉnh
8 Mai Văn Minh 20/4/1972 Phó Giám đốc Sở NN & PTNT
9 Hoàng Văn Hùng 23/6/1966 Chủ tịch HND huyện Bố Trạch
 
 
 
      HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM             CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
             BCH HND TỈNH QUẢNG BÌNH                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                                 *
                   
DANH SÁCH
BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN TỈNH
KHÓA X, NHIỆM KỲ 2018-2023
 
 
 
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Chức vụ, đơn vị công tác hiện nay
1 Lê Công Toán 15/02/1971 Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
2 Hoàng Thị Hà 20/10/1966 Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
3 Nguyễn Nam Long 13/11/1966 Phó chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
4 Phạm Thị Thanh Phúc 27/12/1968 Trưởng Ban Kinh tế - xã hội Hội Nông dân tỉnh
5 Trần Thị Liên 18/11/1970 Trưởng Ban Tổ chức - Kiểm tra Hội Nông dân tỉnh
6 Mai Văn Tịnh 10/5/1965 Giám đốc Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân-HND tỉnh
7 Phùng Xuân Tiến 16/02/1978 Trưởng Ban Điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh
8 Nguyễn Tiến Thành 06/3/1980 Chánh Văn phòng Hội Nông dân tỉnh
9 Nguyễn Xuân Khoa 19/12/1966 Trưởng Ban Tuyên giáo Hội Nông dân tỉnh
10 Phan Thị Thanh Huyền 18/5/1973 Phó trưởng Ban Tổ chức - Kiểm tra Hội Nông dân tỉnh
11 Trần Thị Hoàng Mai 07/11/1981 Phó Chánh Văn phòng Hội Nông dân tỉnh
12 Nguyễn Trường Thành 26/01/1980 Phó trưởng Ban Kinh tế - xã hội Hội Nông dân tỉnh 
13 Phan Thị Lan 25/4/1981 Phó Chánh Văn phòng Hội Nông dân tỉnh
  CÁC SỞ, NGÀNH    
14 Phạm Văn Lương 03/9/1963 Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường
15 Phan Hoài Nam 22/4/1974 Phó Giám đốc Sở Công Thương
16 Nguyễn Chí Thắng 13/3/1975 Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
17 Mai Văn Minh 20/4/1972 Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
18 Nguyễn Minh Hiền 24/4/1972 Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Bắc Quảng Bình
19 Trần Văn Tài 10/8/1967 Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội
20 Trịnh Đình Dương 05/10/1963 Phó Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội
  HND HUYỆN    
21 Dương Đệ Quang 20/10/1962 Chủ tịch Hội Nông dân huyện Lệ Thuỷ
22 Lê Ngọc Huân 15/12/1965 Chủ tịch Hội Nông dân huyện Quảng Ninh
23 Đặng Văn Kỳ 07/10/1966 Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Đồng Hới
24 Hoàng Văn Hùng 23/6/1966 Chủ tịch Hội Nông dân huyện Bố Trạch
25 Đặng Xuân Thọ 05/7/1965 Chủ tịch Hội Nông dân huyện Quảng Trạch
26 Đoàn Hữu Thanh 05/9/1963 Chủ tịch HND Thị xã Ba Đồn
27 Nguyễn Xuân Tuynh 06/8/1964 Chủ tịch Hội Nông dân huyện Tuyên Hoá
28 Đinh Thị Kim Quý 08/3/1971 Chủ tịch Hội Nông dân huyện  Minh Hoá
  HND CƠ SỞ    
29 Võ Mạnh Tường 02/3/1963 Chủ tịch Hội Nông dân xã An Thuỷ, huyện Lệ Thủy
30 Đỗ Đức Thuân 25/01/1975 Chủ tịch Hội Nông dân xã Sơn Lộc, huyện Bố Trạch
31 Phan Thị Thủy 16/11/1963 GĐ HTX Mây tre xiên xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch
 

 
Trang thông tin điện tử tổng hợp Hội Nông dân tỉnh Quảng Bình  

Địa chỉ: Số 43 - Nguyễn Hữu Cảnh - TP. Đồng Hới
Điện thoại: (02322) 240528 Fax: (02323) 824563

Email: nhanongquangbinh@gmail.com
Chịu trách nhiệm xuất bản: Ông Lê Công Toán, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh.